Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

(TBTCO) - Lĩnh vực y tế tư nhân Việt Nam đang có dư địa phát triển lớn khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh kết hợp du lịch gia tăng, kéo theo thị trường thiết bị y tế có thể đạt 4 tỷ USD/năm trong thời gian tới. Trong khi khả năng tiếp cận vốn trung - dài hạn của bệnh viện, phòng khám tư nhân còn hạn chế, cho thuê tài chính nổi lên với nhiều lợi thế trong việc giải bài toán vốn.
aa
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi Vinmec thắng lớn tại Healthcare Asia Awards 2026, khẳng định vị thế y tế Việt trên bản đồ khu vực

Y tế tư nhân rộng dư địa, mở không gian cho ngành kinh tế mới

Ngày 9/9, Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức chia sẻ về cho thuê tài chính - kênh tài trợ vốn trung - dài hạn tối ưu cho y tế tư nhân.

Đánh giá về tiềm năng của lĩnh vực này, ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam khẳng định, thị trường cho thuê tài chính đối với y tế, đặc biệt là y tế tư nhân, bệnh viện tư nhân và các phòng khám trên toàn quốc, sẽ rất tiềm năng.

Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định quan điểm phát triển hệ thống y tế Việt Nam hiện đại, công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế; đồng thời khuyến khích mạnh mẽ khu vực y tế tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ y tế.

Theo đó, khuyến khích phát triển cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, dịch vụ phòng bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực y tế, sản xuất thuốc, vắc-xin, thiết bị y tế, kiểm định, kiểm nghiệm, kiểm chuẩn. Đặc biệt, Nghị quyết khuyến khích phát triển các bệnh viện tư nhân có quy mô lớn, trình độ kỹ thuật chuyên sâu ngang tầm các quốc gia phát triển.

Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế
Ông Phạm Xuân Hòe

Dư địa lớn chờ y tế tư nhân

Theo ông Phạm Xuân Hòe, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam và những người có nhu cầu khám, chữa bệnh, điều trị cao hằng năm vẫn chi ra nước ngoài gần 2 tỷ USD. Điều này cho thấy một thị trường rất rộng lớn và tiềm năng rất tốt đối với cho thuê tài chính.

“Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy chính sách. Nếu như trước đây, y tế tư nhân chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ xã hội hóa, thì nay đã được xác định là một bộ phận hữu cơ của hệ thống y tế quốc gia” - ông Hòe nhấn mạnh.

Trong bối cảnh khả năng đáp ứng của hệ thống y tế công lập vẫn còn nhiều hạn chế về nguồn lực đầu tư, nhân lực và cơ sở vật chất, sự phát triển của y tế tư nhân vì vậy không chỉ là nhu cầu thị trường, mà còn là yêu cầu khách quan để thực hiện mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Về quy mô thị trường, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho rằng, dư địa phát triển còn rất lớn khi Việt Nam hiện có khoảng 400 bệnh viện tư nhân và hơn 70.000 phòng khám, kéo theo nhu cầu đáng kể về thiết bị y tế.

Bên cạnh đó, với quy mô dân số khoảng 100 triệu người, tầng lớp trung lưu dự kiến chiếm khoảng 50% vào năm 2035, nhu cầu khám, chữa bệnh sẽ tiếp tục gia tăng.

Cùng với đó, tỷ lệ già hóa dân số được dự báo ở mức 15 - 20% vào năm 2035, tiếp tục thúc đẩy nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh và điều dưỡng.

Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, sự phát triển của y tế tư nhân còn mở ra dư địa gắn kết với du lịch, để thu hút dòng khách có nhu cầu chăm sóc sức khỏe chất lượng cao.

Chia sẻ gần đây, ông Datuk Dr Kuljit Singh - Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Malaysia cho biết, Malaysia hướng tới đưa y tế trở thành một trung tâm toàn cầu, trở thành điểm đến chăm sóc sức khỏe hàng đầu châu Á, dựa trên uy tín sẵn có về du lịch y tế và các dịch vụ y tế tư nhân chất lượng cao.

Từ kinh nghiệm của Malaysia, ông Hòe nhấn mạnh, Việt Nam cần gắn kết chặt chẽ hơn giữa du lịch và y tế, từ khám, chữa bệnh, dưỡng lão đến làm đẹp, nghỉ dưỡng, qua đó, không chỉ tạo sự bổ trợ giữa hai lĩnh vực, mà còn hướng tới hình thành một ngành kinh tế mới.

Thị trường thiết bị y tế 4 tỷ USD, vốn trung - dài hạn vẫn là bài toán khó

Theo Bộ Y tế, quy mô thị trường thiết bị y tế Việt Nam đã đạt gần 1,7 tỷ USD vào năm 2024 và nằm trong nhóm thị trường tăng trưởng nhanh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nhiều tổ chức nghiên cứu dự báo thị trường có thể đạt từ 2,5 - 4 tỷ USD/năm trong thập niên tới. Hơn 90% thiết bị y tế hiện vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Singapore.

Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế
Quy mô thị trường thiết bị y tế Việt Nam có thể đạt 2,5 - 4 tỷ USD/năm. Ảnh minh họa.

Điều đó đồng nghĩa nhu cầu vốn đầu tư cho thiết bị y tế tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng rất mạnh trong nhiều năm tới.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn trung - dài hạn của các bệnh viện và phòng khám tư nhân còn khá hạn chế.

Ông Phạm Xuân Hòe đã chỉ ra 3 nhóm lợi thế của cho thuê tài chính. Đó là, kênh này có thể cung cấp toàn bộ vốn trung - dài hạn với thời gian ít nhất 5 năm, thậm chí 5 - 10 năm; các bệnh viện tư nhân hay doanh nghiệp mở phòng khám tư nhân không cần phải có tài sản thế chấp; các bệnh viện và cơ sở y tế được tự lựa chọn thiết bị cần mua.

Thực tế cũng cho thấy, nhiều bệnh viện tư nhân đã đầu tư thiết bị y tế bằng vốn tự có hoặc vốn vay ngắn hạn trong giai đoạn đầu phát triển. Khi nhu cầu mở rộng xuất hiện, doanh nghiệp thường rơi vào tình trạng thiếu vốn lưu động, nhưng lại sở hữu khối lượng lớn tài sản thiết bị đã đưa vào vận hành.

“Thông qua dịch vụ cho thuê tài chính, họ có thể bán lại máy móc, thiết bị cho công ty cho thuê tài chính để “giải phóng” vốn, chuyển sang vốn lưu động, sau đó thuê lại chính tài sản của mình” - ông Hòe phân tích.

So sánh với các kênh cấp vốn khác, theo lãnh đạo Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các bệnh viện, phòng khám tư nhân thường không đủ lớn, trong khi khả năng huy động vốn trên thị trường vốn còn hạn chế.

Việc phát hành trái phiếu không dễ dàng, khi trên thị trường chứng khoán hiện mới chỉ có một số ít bệnh viện, doanh nghiệp y tế quy mô lớn niêm yết. Phần lớn cơ sở y tế tư nhân chưa đủ quy mô và mức độ tín nhiệm để huy động vốn qua kênh này.

Tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh tài trợ vốn chủ yếu, song yêu cầu cao về tài sản bảo đảm; thời hạn tín dụng thường ngắn hơn vòng đời khai thác thiết bị; điều kiện tiếp cận vốn phụ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp hơn là hiệu quả dòng tiền trong tương lai.

Ngoài ra, một số cơ sở có thể hợp tác với nhà đầu tư cá nhân hoặc công ty thiết bị theo hình thức đặt thiết bị tại cơ sở y tế, sau đó cùng khai thác và chia sẻ doanh thu, lợi nhuận.

Với những lợi thế nổi trội hơn, cho thuê tài chính sẽ có nhiều tiềm năng trong việc hỗ trợ giải bài toán vốn cho y tế tư nhân Việt Nam./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

(TBTCO) - HDBank ghi dấu ấn trên bản đồ tài chính khu vực khi đứng thứ 2 về hiệu quả hoạt động trong bảng xếp hạng năm 2025 của S&P Global Market Intelligence dành cho 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời giữ vị trí cao nhất trong nhóm ngân hàng Việt Nam được đánh giá.
LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

(TBTCO) - Hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1 sau 5 tháng triển khai, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) chính thức đưa phiên bản mới vào vận hành từ ngày 4/10/2026, tạo bước tiến về năng lực xử lý, kết nối và an toàn giao dịch. Không chỉ củng cố hạ tầng thanh toán, đây còn là tiền đề để LPBank nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 2 với gần 50 tính năng, giải pháp và dịch vụ mới, góp phần nâng tầm trải nghiệm thanh toán số cho khách hàng.
Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings vừa nâng xếp hạng tiền gửi dài hạn và xếp hạng nhà phát hành của Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) từ B2 lên B1, đồng thời duy trì triển vọng Tích cực, ghi nhận những cải thiện về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời và năng lực vốn của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 7/10, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.645 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY giảm 0,25% xuống 101,85 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để tìm thêm tín hiệu chính sách.
Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

(TBTCO) - Các “thước đo”, giới hạn và tỷ lệ an toàn mới đặt ngân hàng trước những bài kiểm tra về độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản khi dòng tiền căng thẳng và sức chống đỡ rủi ro của nền vốn, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel III. Qua đó, “sức khỏe” và khả năng chống chịu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.
Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

(TBTCO) - Vừa qua, tại Singapore, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Liên đoàn Sản xuất Singapore (SMF) tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam với chủ đề: “Việt Nam - Điểm sáng kinh doanh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,000 14,300
Miếng SJC Nghệ An 14,000 14,300
Miếng SJC Thái Bình 14,000 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 14,300
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,580 14,180
Trang sức 99.99 13,590 14,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 14,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 14,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cập nhật: 08/10/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17545 17818 18397
CAD 17729 18003 18624
CHF 30566 30942 31584
CNY 0 3833 3929
EUR 28450 28667 29747
GBP 33532 33920 34868
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14240 14827
SGD 19759 20041 20612
THB 686 749 803
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26173
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 28,591 28,614 29,972
JPY 159.65 159.94 169.62
GBP 33,797 33,889 35,062
AUD 17,772 17,836 18,517
CAD 17,928 17,986 18,648
CHF 30,816 30,912 31,823
SGD 19,891 19,953 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,390
KRW 17.86 18.63 20.28
THB 735.58 744.66 797.56
NZD 14,247 14,379 14,808
SEK - 2,544 2,636
DKK - 3,835 3,971
NOK - 2,670 2,764
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,942.67 - 6,706.83
TWD 735.92 - 891.61
SAR - 6,803.67 7,166.81
KWD - 82,055 87,314
AED - 6,819 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 28,738 28,853 30,060
GBP 33,869 34,005 35,038
HKD 3,245 3,258 3,375
CHF 30,710 30,833 31,779
JPY 160.38 161.02 169
AUD 17,840 17,912 18,511
SGD 19,996 20,076 20,673
THB 754 757 794
CAD 17,969 18,041 18,640
NZD 14,361 14,917
KRW 18.73 20.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25805 26165
AUD 17751 17851 18782
CAD 17915 18015 19028
CHF 30780 30810 32387
CNY 3815.7 3840.7 3975.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28632 28662 30388
GBP 33870 33920 35683
HKD 0 3315 0
JPY 160.65 161.15 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14362 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19922 20052 20776
THB 0 715.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 08/10/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30