Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
aa

Dòng vốn chảy đúng đích, dư nợ trung hạn chiếm chủ đạo

Hiện cả nước có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, phần lớn là công ty con của các ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank; bên cạnh đó còn có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài như: Chailease, Kexim...

Danh mục cho thuê tài chính tập trung chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, với dòng vốn trung và dài hạn đóng vai trò như "mạch dẫn" vốn bền bỉ tiếp sức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nguồn lực này tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cấp công nghệ và từng bước mở rộng quy mô.

Theo báo cáo tài chính cuối quý III/2025, dư nợ cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBL) đạt 6.614,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với đầu năm.

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng
Nguồn: BC các ngân hàng, CTCK Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Trong đó, dư nợ cho thuê đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 6.351,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 96% tổng dư nợ; còn lại cho thuê cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ. Còn phân loại theo kỳ hạn, dư nợ trung hạn Sacombank-SBL chiếm tỷ trọng chủ đạo 87% tổng dư nợ và tăng 16,3% so với đầu năm. Dư nợ dài hạn đạt 865,3 tỷ đồng, chiếm 13,1%, song tăng mạnh hơn (37,7%).

Dư nợ cho thuê tài chính của Công Ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL) cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm, với mức tăng 19% năm 2025, cao hơn mặt bằng chung. Kết quả này cho thấy năng lực mở rộng hoạt động hiệu quả, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu dư nợ đạt khoảng 3.300 tỷ đồng năm 2026.

Số liệu từ ACBL cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu tập trung ở nhóm công ty cổ phần tương đương 97% tổng dư nợ. Các phân khúc còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gồm cá nhân và hộ kinh doanh; hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Về kỳ hạn, dư nợ cho thuê tài chính của ACBL cũng tập trung chủ yếu ở trung hạn, chiếm tới 94% tổng dư nợ.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu đầu tư thực vào máy móc, thiết bị. Những tài sản này thường có thời gian khấu hao dài, nhưng lại nhanh chóng tạo ra dòng tiền ngay khi đưa vào vận hành, khác với một số lĩnh vực như bất động sản.

Kênh vốn “chia lửa” cho vay trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng

TS. Phạm Xuân Hòe nhiều lần nhấn mạnh, cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều ngân hàng tách ra một công ty độc lập để “gánh” phần vốn trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Với căn bệnh thanh khoản, nếu không có kênh cho thuê tài chính, cho thuê tài sản phát triển, thực sự hệ thống ngân hàng khó gánh nổi.

Nhờ gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng vốn cho thuê tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.

Cũng theo chia sẻ của TS. Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, dù dư nợ cho thuê tài chính của các hội viên năm 2025 đạt 12,38%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), song đây vẫn được xem là mức tăng trưởng "thực", có chất lượng.

Thông tin từ Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, dư nợ cho thuê tài chính tăng đều đặn qua các quý, với số lượng hợp đồng cho thuê là 11.845 hợp đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tổng dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt khoảng 45,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến khi doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản vay tín dụng truyền thống, song điều này cũng cho thấy, dư địa phát triển của cho thuê tài chính còn khá lớn.

Cẩn trọng khi "lấy ngắn nuôi dài”

Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, trong khi tới 50% dư nợ lại được phân bổ cho các khoản vay trung và dài hạn, theo chia sẻ của đại diện Ngân hàng Nhà nước.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và bất động sản, chủ yếu mang tính dài hạn, sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, cũng như rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng.

Do đó, các quy định kiểm soát, nhất là trần 30% tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

Theo quan sát của ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (Công ty VDSC), các ngân hàng hiện ghi nhận một sự khác biệt đáng kể liên quan đến tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

"Khi các ngân hàng có nhu cầu vốn trung và dài hạn cao hơn, sẽ buộc phải điều chỉnh lãi suất tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng trở lên ở mức hấp dẫn, để có thể cạnh tranh trong huy động vốn" - ông Tùng nhận định.

Lưu ý về rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, TS. Phạm Xuân Hòe cho biết, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn toàn ngành lên tới 50%, trong khi nguồn vốn ngắn hạn lại được sử dụng để tài trợ các khoản vay này, dẫn đến tình trạng dòng tiền không quay vòng kịp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến vòng quay tiền tệ ở mức thấp, dưới 0,6 lần.

Nhớ lại thời gian khi còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, ông Hòe cho biết, lúc bấy giờ mới khoảng 43% dư nợ là cho vay trung dài hạn. Sau khi có Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 53% và đến nay giảm về 47%. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một biến động nhỏ về thanh khoản cũng có thể khiến lãi suất ngân hàng tăng mạnh.

Thực trạng này cũng cho thấy sự cần thiết của việc phát triển các kênh vốn bổ trợ như cho thuê tài chính, qua đó, góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ sát trần 30%, áp lực nhiều nơi gia tăng

Theo thống kê từ VDSC, nhiều ngân hàng lớn có tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát trần quy định (30%), chẳng hạn: MB, Techcombank hay VPBank đều dao động 27 - 28%. Điều này cho thấy các ngân hàng này chịu áp lực lớn hơn trong việc huy động nguồn vốn trung, dài hạn so với nhóm ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, như nhóm ngân hàng quốc doanh hiện chỉ khoảng 20 - 24%.

Cùng với đó, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại cuối quý IV/2025 tăng từ 1 - 3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, kéo theo áp lực huy động ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trong năm 2026. Tỷ lệ này tăng mạnh tại nhiều ngân hàng cũng đồng nghĩa dư địa tiếp tục mở rộng tỷ trọng cho vay trung dài hạn - vốn có lợi suất cao - không còn nhiều.

Thống kê từ báo cáo tài chính cũng cho thấy, đến cuối năm 2025, không ít nhà băng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm ưu thế trong dư nợ khách hàng. Có thể kể đến như: NCB (75%); OCB (73,4%); Techcombank (67%); VPBank (63,8%)... Ngược lại, một số ngân hàng duy trì tỷ lệ thấp quanh 30%: Sacombank (35,7%); ACB (35,2%)...

Chuyên gia VDSC cho rằng, nhiều ngân hàng sẽ phải kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vốn có xu hướng gia tăng năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17595 17868 18443
CAD 17982 18257 18870
CHF 31921 32302 32940
CNY 0 3832 3925
EUR 29351 29572 30649
GBP 34247 34637 35564
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14624 15211
SGD 19773 20055 20631
THB 705 768 822
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26465
AUD 17784 17884 18807
CAD 18146 18246 19260
CHF 32096 32126 33716
CNY 3814.4 3839.4 3974.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31233
GBP 34428 34478 36246
HKD 0 3355 0
JPY 158.24 158.74 169.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14730 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,122 26,172 26,465
USD20 26,122 26,172 26,465
USD1 26,122 26,172 26,465
AUD 17,823 17,923 19,030
EUR 29,641 29,641 31,050
CAD 18,101 18,201 19,507
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 159.08 160.58 165.1
GBP 34,353 34,703 35,550
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80