Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
aa

Dòng vốn chảy đúng đích, dư nợ trung hạn chiếm chủ đạo

Hiện cả nước có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, phần lớn là công ty con của các ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank; bên cạnh đó còn có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài như: Chailease, Kexim...

Danh mục cho thuê tài chính tập trung chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, với dòng vốn trung và dài hạn đóng vai trò như "mạch dẫn" vốn bền bỉ tiếp sức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nguồn lực này tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cấp công nghệ và từng bước mở rộng quy mô.

Theo báo cáo tài chính cuối quý III/2025, dư nợ cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBL) đạt 6.614,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với đầu năm.

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng
Nguồn: BC các ngân hàng, CTCK Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Trong đó, dư nợ cho thuê đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 6.351,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 96% tổng dư nợ; còn lại cho thuê cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ. Còn phân loại theo kỳ hạn, dư nợ trung hạn Sacombank-SBL chiếm tỷ trọng chủ đạo 87% tổng dư nợ và tăng 16,3% so với đầu năm. Dư nợ dài hạn đạt 865,3 tỷ đồng, chiếm 13,1%, song tăng mạnh hơn (37,7%).

Dư nợ cho thuê tài chính của Công Ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL) cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm, với mức tăng 19% năm 2025, cao hơn mặt bằng chung. Kết quả này cho thấy năng lực mở rộng hoạt động hiệu quả, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu dư nợ đạt khoảng 3.300 tỷ đồng năm 2026.

Số liệu từ ACBL cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu tập trung ở nhóm công ty cổ phần tương đương 97% tổng dư nợ. Các phân khúc còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gồm cá nhân và hộ kinh doanh; hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Về kỳ hạn, dư nợ cho thuê tài chính của ACBL cũng tập trung chủ yếu ở trung hạn, chiếm tới 94% tổng dư nợ.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu đầu tư thực vào máy móc, thiết bị. Những tài sản này thường có thời gian khấu hao dài, nhưng lại nhanh chóng tạo ra dòng tiền ngay khi đưa vào vận hành, khác với một số lĩnh vực như bất động sản.

Kênh vốn “chia lửa” cho vay trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng

TS. Phạm Xuân Hòe nhiều lần nhấn mạnh, cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều ngân hàng tách ra một công ty độc lập để “gánh” phần vốn trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Với căn bệnh thanh khoản, nếu không có kênh cho thuê tài chính, cho thuê tài sản phát triển, thực sự hệ thống ngân hàng khó gánh nổi.

Nhờ gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng vốn cho thuê tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.

Cũng theo chia sẻ của TS. Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, dù dư nợ cho thuê tài chính của các hội viên năm 2025 đạt 12,38%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), song đây vẫn được xem là mức tăng trưởng "thực", có chất lượng.

Thông tin từ Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, dư nợ cho thuê tài chính tăng đều đặn qua các quý, với số lượng hợp đồng cho thuê là 11.845 hợp đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tổng dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt khoảng 45,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến khi doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản vay tín dụng truyền thống, song điều này cũng cho thấy, dư địa phát triển của cho thuê tài chính còn khá lớn.

Cẩn trọng khi "lấy ngắn nuôi dài”

Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, trong khi tới 50% dư nợ lại được phân bổ cho các khoản vay trung và dài hạn, theo chia sẻ của đại diện Ngân hàng Nhà nước.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và bất động sản, chủ yếu mang tính dài hạn, sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, cũng như rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng.

Do đó, các quy định kiểm soát, nhất là trần 30% tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

Theo quan sát của ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (Công ty VDSC), các ngân hàng hiện ghi nhận một sự khác biệt đáng kể liên quan đến tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

"Khi các ngân hàng có nhu cầu vốn trung và dài hạn cao hơn, sẽ buộc phải điều chỉnh lãi suất tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng trở lên ở mức hấp dẫn, để có thể cạnh tranh trong huy động vốn" - ông Tùng nhận định.

Lưu ý về rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, TS. Phạm Xuân Hòe cho biết, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn toàn ngành lên tới 50%, trong khi nguồn vốn ngắn hạn lại được sử dụng để tài trợ các khoản vay này, dẫn đến tình trạng dòng tiền không quay vòng kịp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến vòng quay tiền tệ ở mức thấp, dưới 0,6 lần.

Nhớ lại thời gian khi còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, ông Hòe cho biết, lúc bấy giờ mới khoảng 43% dư nợ là cho vay trung dài hạn. Sau khi có Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 53% và đến nay giảm về 47%. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một biến động nhỏ về thanh khoản cũng có thể khiến lãi suất ngân hàng tăng mạnh.

Thực trạng này cũng cho thấy sự cần thiết của việc phát triển các kênh vốn bổ trợ như cho thuê tài chính, qua đó, góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ sát trần 30%, áp lực nhiều nơi gia tăng

Theo thống kê từ VDSC, nhiều ngân hàng lớn có tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát trần quy định (30%), chẳng hạn: MB, Techcombank hay VPBank đều dao động 27 - 28%. Điều này cho thấy các ngân hàng này chịu áp lực lớn hơn trong việc huy động nguồn vốn trung, dài hạn so với nhóm ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, như nhóm ngân hàng quốc doanh hiện chỉ khoảng 20 - 24%.

Cùng với đó, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại cuối quý IV/2025 tăng từ 1 - 3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, kéo theo áp lực huy động ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trong năm 2026. Tỷ lệ này tăng mạnh tại nhiều ngân hàng cũng đồng nghĩa dư địa tiếp tục mở rộng tỷ trọng cho vay trung dài hạn - vốn có lợi suất cao - không còn nhiều.

Thống kê từ báo cáo tài chính cũng cho thấy, đến cuối năm 2025, không ít nhà băng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm ưu thế trong dư nợ khách hàng. Có thể kể đến như: NCB (75%); OCB (73,4%); Techcombank (67%); VPBank (63,8%)... Ngược lại, một số ngân hàng duy trì tỷ lệ thấp quanh 30%: Sacombank (35,7%); ACB (35,2%)...

Chuyên gia VDSC cho rằng, nhiều ngân hàng sẽ phải kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vốn có xu hướng gia tăng năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80