Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng
Dòng vốn chảy đúng đích, dư nợ trung hạn chiếm chủ đạo
Hiện cả nước có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, phần lớn là công ty con của các ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank; bên cạnh đó còn có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài như: Chailease, Kexim...
Danh mục cho thuê tài chính tập trung chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, với dòng vốn trung và dài hạn đóng vai trò như "mạch dẫn" vốn bền bỉ tiếp sức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nguồn lực này tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cấp công nghệ và từng bước mở rộng quy mô.
Theo báo cáo tài chính cuối quý III/2025, dư nợ cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBL) đạt 6.614,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với đầu năm.
![]() |
| Nguồn: BC các ngân hàng, CTCK Rồng Việt. Đồ họa tư liệu |
Trong đó, dư nợ cho thuê đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 6.351,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 96% tổng dư nợ; còn lại cho thuê cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ. Còn phân loại theo kỳ hạn, dư nợ trung hạn Sacombank-SBL chiếm tỷ trọng chủ đạo 87% tổng dư nợ và tăng 16,3% so với đầu năm. Dư nợ dài hạn đạt 865,3 tỷ đồng, chiếm 13,1%, song tăng mạnh hơn (37,7%).
Dư nợ cho thuê tài chính của Công Ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL) cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm, với mức tăng 19% năm 2025, cao hơn mặt bằng chung. Kết quả này cho thấy năng lực mở rộng hoạt động hiệu quả, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu dư nợ đạt khoảng 3.300 tỷ đồng năm 2026.
Số liệu từ ACBL cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu tập trung ở nhóm công ty cổ phần tương đương 97% tổng dư nợ. Các phân khúc còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gồm cá nhân và hộ kinh doanh; hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về kỳ hạn, dư nợ cho thuê tài chính của ACBL cũng tập trung chủ yếu ở trung hạn, chiếm tới 94% tổng dư nợ.
Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu đầu tư thực vào máy móc, thiết bị. Những tài sản này thường có thời gian khấu hao dài, nhưng lại nhanh chóng tạo ra dòng tiền ngay khi đưa vào vận hành, khác với một số lĩnh vực như bất động sản.
| Kênh vốn “chia lửa” cho vay trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng TS. Phạm Xuân Hòe nhiều lần nhấn mạnh, cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều ngân hàng tách ra một công ty độc lập để “gánh” phần vốn trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Với căn bệnh thanh khoản, nếu không có kênh cho thuê tài chính, cho thuê tài sản phát triển, thực sự hệ thống ngân hàng khó gánh nổi. |
Nhờ gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng vốn cho thuê tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.
Cũng theo chia sẻ của TS. Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, dù dư nợ cho thuê tài chính của các hội viên năm 2025 đạt 12,38%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), song đây vẫn được xem là mức tăng trưởng "thực", có chất lượng.
Thông tin từ Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, dư nợ cho thuê tài chính tăng đều đặn qua các quý, với số lượng hợp đồng cho thuê là 11.845 hợp đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tổng dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt khoảng 45,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.
Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến khi doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản vay tín dụng truyền thống, song điều này cũng cho thấy, dư địa phát triển của cho thuê tài chính còn khá lớn.
Cẩn trọng khi "lấy ngắn nuôi dài”
Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, trong khi tới 50% dư nợ lại được phân bổ cho các khoản vay trung và dài hạn, theo chia sẻ của đại diện Ngân hàng Nhà nước.
Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và bất động sản, chủ yếu mang tính dài hạn, sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, cũng như rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng.
Do đó, các quy định kiểm soát, nhất là trần 30% tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
Theo quan sát của ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (Công ty VDSC), các ngân hàng hiện ghi nhận một sự khác biệt đáng kể liên quan đến tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
"Khi các ngân hàng có nhu cầu vốn trung và dài hạn cao hơn, sẽ buộc phải điều chỉnh lãi suất tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng trở lên ở mức hấp dẫn, để có thể cạnh tranh trong huy động vốn" - ông Tùng nhận định.
Lưu ý về rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, TS. Phạm Xuân Hòe cho biết, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn toàn ngành lên tới 50%, trong khi nguồn vốn ngắn hạn lại được sử dụng để tài trợ các khoản vay này, dẫn đến tình trạng dòng tiền không quay vòng kịp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến vòng quay tiền tệ ở mức thấp, dưới 0,6 lần.
Nhớ lại thời gian khi còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, ông Hòe cho biết, lúc bấy giờ mới khoảng 43% dư nợ là cho vay trung dài hạn. Sau khi có Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 53% và đến nay giảm về 47%. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một biến động nhỏ về thanh khoản cũng có thể khiến lãi suất ngân hàng tăng mạnh.
Thực trạng này cũng cho thấy sự cần thiết của việc phát triển các kênh vốn bổ trợ như cho thuê tài chính, qua đó, góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ sát trần 30%, áp lực nhiều nơi gia tăngTheo thống kê từ VDSC, nhiều ngân hàng lớn có tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát trần quy định (30%), chẳng hạn: MB, Techcombank hay VPBank đều dao động 27 - 28%. Điều này cho thấy các ngân hàng này chịu áp lực lớn hơn trong việc huy động nguồn vốn trung, dài hạn so với nhóm ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, như nhóm ngân hàng quốc doanh hiện chỉ khoảng 20 - 24%. Cùng với đó, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại cuối quý IV/2025 tăng từ 1 - 3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, kéo theo áp lực huy động ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trong năm 2026. Tỷ lệ này tăng mạnh tại nhiều ngân hàng cũng đồng nghĩa dư địa tiếp tục mở rộng tỷ trọng cho vay trung dài hạn - vốn có lợi suất cao - không còn nhiều. Thống kê từ báo cáo tài chính cũng cho thấy, đến cuối năm 2025, không ít nhà băng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm ưu thế trong dư nợ khách hàng. Có thể kể đến như: NCB (75%); OCB (73,4%); Techcombank (67%); VPBank (63,8%)... Ngược lại, một số ngân hàng duy trì tỷ lệ thấp quanh 30%: Sacombank (35,7%); ACB (35,2%)... Chuyên gia VDSC cho rằng, nhiều ngân hàng sẽ phải kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vốn có xu hướng gia tăng năm 2025. |
Dành cho bạn
Đọc thêm
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm



