Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
aa

Dòng vốn chảy đúng đích, dư nợ trung hạn chiếm chủ đạo

Hiện cả nước có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, phần lớn là công ty con của các ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank; bên cạnh đó còn có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài như: Chailease, Kexim...

Danh mục cho thuê tài chính tập trung chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, với dòng vốn trung và dài hạn đóng vai trò như "mạch dẫn" vốn bền bỉ tiếp sức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nguồn lực này tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cấp công nghệ và từng bước mở rộng quy mô.

Theo báo cáo tài chính cuối quý III/2025, dư nợ cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBL) đạt 6.614,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với đầu năm.

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng
Nguồn: BC các ngân hàng, CTCK Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Trong đó, dư nợ cho thuê đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 6.351,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 96% tổng dư nợ; còn lại cho thuê cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ. Còn phân loại theo kỳ hạn, dư nợ trung hạn Sacombank-SBL chiếm tỷ trọng chủ đạo 87% tổng dư nợ và tăng 16,3% so với đầu năm. Dư nợ dài hạn đạt 865,3 tỷ đồng, chiếm 13,1%, song tăng mạnh hơn (37,7%).

Dư nợ cho thuê tài chính của Công Ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL) cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm, với mức tăng 19% năm 2025, cao hơn mặt bằng chung. Kết quả này cho thấy năng lực mở rộng hoạt động hiệu quả, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu dư nợ đạt khoảng 3.300 tỷ đồng năm 2026.

Số liệu từ ACBL cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu tập trung ở nhóm công ty cổ phần tương đương 97% tổng dư nợ. Các phân khúc còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gồm cá nhân và hộ kinh doanh; hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Về kỳ hạn, dư nợ cho thuê tài chính của ACBL cũng tập trung chủ yếu ở trung hạn, chiếm tới 94% tổng dư nợ.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu đầu tư thực vào máy móc, thiết bị. Những tài sản này thường có thời gian khấu hao dài, nhưng lại nhanh chóng tạo ra dòng tiền ngay khi đưa vào vận hành, khác với một số lĩnh vực như bất động sản.

Kênh vốn “chia lửa” cho vay trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng

TS. Phạm Xuân Hòe nhiều lần nhấn mạnh, cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều ngân hàng tách ra một công ty độc lập để “gánh” phần vốn trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Với căn bệnh thanh khoản, nếu không có kênh cho thuê tài chính, cho thuê tài sản phát triển, thực sự hệ thống ngân hàng khó gánh nổi.

Nhờ gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng vốn cho thuê tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.

Cũng theo chia sẻ của TS. Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, dù dư nợ cho thuê tài chính của các hội viên năm 2025 đạt 12,38%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), song đây vẫn được xem là mức tăng trưởng "thực", có chất lượng.

Thông tin từ Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, dư nợ cho thuê tài chính tăng đều đặn qua các quý, với số lượng hợp đồng cho thuê là 11.845 hợp đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tổng dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt khoảng 45,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến khi doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản vay tín dụng truyền thống, song điều này cũng cho thấy, dư địa phát triển của cho thuê tài chính còn khá lớn.

Cẩn trọng khi "lấy ngắn nuôi dài”

Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, trong khi tới 50% dư nợ lại được phân bổ cho các khoản vay trung và dài hạn, theo chia sẻ của đại diện Ngân hàng Nhà nước.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và bất động sản, chủ yếu mang tính dài hạn, sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, cũng như rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng.

Do đó, các quy định kiểm soát, nhất là trần 30% tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

Theo quan sát của ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (Công ty VDSC), các ngân hàng hiện ghi nhận một sự khác biệt đáng kể liên quan đến tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

"Khi các ngân hàng có nhu cầu vốn trung và dài hạn cao hơn, sẽ buộc phải điều chỉnh lãi suất tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng trở lên ở mức hấp dẫn, để có thể cạnh tranh trong huy động vốn" - ông Tùng nhận định.

Lưu ý về rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, TS. Phạm Xuân Hòe cho biết, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn toàn ngành lên tới 50%, trong khi nguồn vốn ngắn hạn lại được sử dụng để tài trợ các khoản vay này, dẫn đến tình trạng dòng tiền không quay vòng kịp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến vòng quay tiền tệ ở mức thấp, dưới 0,6 lần.

Nhớ lại thời gian khi còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, ông Hòe cho biết, lúc bấy giờ mới khoảng 43% dư nợ là cho vay trung dài hạn. Sau khi có Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 53% và đến nay giảm về 47%. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một biến động nhỏ về thanh khoản cũng có thể khiến lãi suất ngân hàng tăng mạnh.

Thực trạng này cũng cho thấy sự cần thiết của việc phát triển các kênh vốn bổ trợ như cho thuê tài chính, qua đó, góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ sát trần 30%, áp lực nhiều nơi gia tăng

Theo thống kê từ VDSC, nhiều ngân hàng lớn có tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát trần quy định (30%), chẳng hạn: MB, Techcombank hay VPBank đều dao động 27 - 28%. Điều này cho thấy các ngân hàng này chịu áp lực lớn hơn trong việc huy động nguồn vốn trung, dài hạn so với nhóm ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, như nhóm ngân hàng quốc doanh hiện chỉ khoảng 20 - 24%.

Cùng với đó, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại cuối quý IV/2025 tăng từ 1 - 3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, kéo theo áp lực huy động ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trong năm 2026. Tỷ lệ này tăng mạnh tại nhiều ngân hàng cũng đồng nghĩa dư địa tiếp tục mở rộng tỷ trọng cho vay trung dài hạn - vốn có lợi suất cao - không còn nhiều.

Thống kê từ báo cáo tài chính cũng cho thấy, đến cuối năm 2025, không ít nhà băng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm ưu thế trong dư nợ khách hàng. Có thể kể đến như: NCB (75%); OCB (73,4%); Techcombank (67%); VPBank (63,8%)... Ngược lại, một số ngân hàng duy trì tỷ lệ thấp quanh 30%: Sacombank (35,7%); ACB (35,2%)...

Chuyên gia VDSC cho rằng, nhiều ngân hàng sẽ phải kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vốn có xu hướng gia tăng năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18842
CAD 18329 18605 19220
CHF 31602 31982 32627
CNY 0 3830 3940
EUR 29685 29907 30984
GBP 34631 35023 35965
HKD 0 3206 3409
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15060 15645
SGD 19954 20236 20803
THB 706 769 822
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,697 29,721 31,128
JPY 159.62 159.91 169.59
GBP 34,773 34,867 36,072
AUD 18,173 18,239 18,934
CAD 18,475 18,534 19,216
CHF 31,813 31,912 32,857
SGD 20,047 20,109 20,895
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,270 3,280 3,417
KRW 17.14 17.87 19.45
THB 752.98 762.28 816.11
NZD 15,010 15,149 15,597
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,794.22
TWD 739.72 - 895.55
SAR - 6,853.64 7,218.66
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18170 18270 19192
CAD 18500 18600 19611
CHF 31832 31862 33448
CNY 3821.1 3846.1 3981.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29854 29884 31612
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.69 161.19 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15159 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20101 20231 20955
THB 0 734.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80