Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
aa

Dòng vốn chảy đúng đích, dư nợ trung hạn chiếm chủ đạo

Hiện cả nước có khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, phần lớn là công ty con của các ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank; bên cạnh đó còn có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài như: Chailease, Kexim...

Danh mục cho thuê tài chính tập trung chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, với dòng vốn trung và dài hạn đóng vai trò như "mạch dẫn" vốn bền bỉ tiếp sức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nguồn lực này tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nâng cấp công nghệ và từng bước mở rộng quy mô.

Theo báo cáo tài chính cuối quý III/2025, dư nợ cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBL) đạt 6.614,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với đầu năm.

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng
Nguồn: BC các ngân hàng, CTCK Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Trong đó, dư nợ cho thuê đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 6.351,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 96% tổng dư nợ; còn lại cho thuê cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ. Còn phân loại theo kỳ hạn, dư nợ trung hạn Sacombank-SBL chiếm tỷ trọng chủ đạo 87% tổng dư nợ và tăng 16,3% so với đầu năm. Dư nợ dài hạn đạt 865,3 tỷ đồng, chiếm 13,1%, song tăng mạnh hơn (37,7%).

Dư nợ cho thuê tài chính của Công Ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL) cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm, với mức tăng 19% năm 2025, cao hơn mặt bằng chung. Kết quả này cho thấy năng lực mở rộng hoạt động hiệu quả, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu dư nợ đạt khoảng 3.300 tỷ đồng năm 2026.

Số liệu từ ACBL cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu tập trung ở nhóm công ty cổ phần tương đương 97% tổng dư nợ. Các phân khúc còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gồm cá nhân và hộ kinh doanh; hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Về kỳ hạn, dư nợ cho thuê tài chính của ACBL cũng tập trung chủ yếu ở trung hạn, chiếm tới 94% tổng dư nợ.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu đầu tư thực vào máy móc, thiết bị. Những tài sản này thường có thời gian khấu hao dài, nhưng lại nhanh chóng tạo ra dòng tiền ngay khi đưa vào vận hành, khác với một số lĩnh vực như bất động sản.

Kênh vốn “chia lửa” cho vay trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng

TS. Phạm Xuân Hòe nhiều lần nhấn mạnh, cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều ngân hàng tách ra một công ty độc lập để “gánh” phần vốn trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Với căn bệnh thanh khoản, nếu không có kênh cho thuê tài chính, cho thuê tài sản phát triển, thực sự hệ thống ngân hàng khó gánh nổi.

Nhờ gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng vốn cho thuê tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.

Cũng theo chia sẻ của TS. Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, dù dư nợ cho thuê tài chính của các hội viên năm 2025 đạt 12,38%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), song đây vẫn được xem là mức tăng trưởng "thực", có chất lượng.

Thông tin từ Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, dư nợ cho thuê tài chính tăng đều đặn qua các quý, với số lượng hợp đồng cho thuê là 11.845 hợp đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tổng dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt khoảng 45,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến khi doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản vay tín dụng truyền thống, song điều này cũng cho thấy, dư địa phát triển của cho thuê tài chính còn khá lớn.

Cẩn trọng khi "lấy ngắn nuôi dài”

Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, trong khi tới 50% dư nợ lại được phân bổ cho các khoản vay trung và dài hạn, theo chia sẻ của đại diện Ngân hàng Nhà nước.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và bất động sản, chủ yếu mang tính dài hạn, sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, cũng như rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng.

Do đó, các quy định kiểm soát, nhất là trần 30% tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

Theo quan sát của ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (Công ty VDSC), các ngân hàng hiện ghi nhận một sự khác biệt đáng kể liên quan đến tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

"Khi các ngân hàng có nhu cầu vốn trung và dài hạn cao hơn, sẽ buộc phải điều chỉnh lãi suất tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng trở lên ở mức hấp dẫn, để có thể cạnh tranh trong huy động vốn" - ông Tùng nhận định.

Lưu ý về rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, TS. Phạm Xuân Hòe cho biết, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn toàn ngành lên tới 50%, trong khi nguồn vốn ngắn hạn lại được sử dụng để tài trợ các khoản vay này, dẫn đến tình trạng dòng tiền không quay vòng kịp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến vòng quay tiền tệ ở mức thấp, dưới 0,6 lần.

Nhớ lại thời gian khi còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, ông Hòe cho biết, lúc bấy giờ mới khoảng 43% dư nợ là cho vay trung dài hạn. Sau khi có Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 53% và đến nay giảm về 47%. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một biến động nhỏ về thanh khoản cũng có thể khiến lãi suất ngân hàng tăng mạnh.

Thực trạng này cũng cho thấy sự cần thiết của việc phát triển các kênh vốn bổ trợ như cho thuê tài chính, qua đó, góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ sát trần 30%, áp lực nhiều nơi gia tăng

Theo thống kê từ VDSC, nhiều ngân hàng lớn có tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát trần quy định (30%), chẳng hạn: MB, Techcombank hay VPBank đều dao động 27 - 28%. Điều này cho thấy các ngân hàng này chịu áp lực lớn hơn trong việc huy động nguồn vốn trung, dài hạn so với nhóm ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, như nhóm ngân hàng quốc doanh hiện chỉ khoảng 20 - 24%.

Cùng với đó, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại cuối quý IV/2025 tăng từ 1 - 3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, kéo theo áp lực huy động ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trong năm 2026. Tỷ lệ này tăng mạnh tại nhiều ngân hàng cũng đồng nghĩa dư địa tiếp tục mở rộng tỷ trọng cho vay trung dài hạn - vốn có lợi suất cao - không còn nhiều.

Thống kê từ báo cáo tài chính cũng cho thấy, đến cuối năm 2025, không ít nhà băng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm ưu thế trong dư nợ khách hàng. Có thể kể đến như: NCB (75%); OCB (73,4%); Techcombank (67%); VPBank (63,8%)... Ngược lại, một số ngân hàng duy trì tỷ lệ thấp quanh 30%: Sacombank (35,7%); ACB (35,2%)...

Chuyên gia VDSC cho rằng, nhiều ngân hàng sẽ phải kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vốn có xu hướng gia tăng năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30