Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
aa
Áp lực đè nặng, ngân hàng “xoay xở” nhiều kênh huy động vốn Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phần lớn ngân hàng huy động hụt nhịp tín dụng

Trong báo cáo ngành ngân hàng - cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026, Công ty cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) nhận định, tiền gửi khách hàng vẫn là “xương sống” trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, với 59,8% tổng nguồn vốn, nhưng tỷ trọng đang co dần.

Trong 6 quý gần nhất, tỷ trọng tiền gửi khách hàng giảm từ 64,6% về 59,8% tổng nguồn vốn, trong khi liên ngân hàng tăng lên 16,5% từ 13,4% và giấy tờ có giá tăng lên 8,8% từ 8%. Nguyên nhân do khoảng cách tín dụng - huy động từ đầu năm đã lên 3,5 điểm phần trăm, buộc các ngân hàng vay liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá để bù phần chênh - nguồn huy động nhanh, nhưng chi phí phản ứng tức thì khi lãi suất ngắn hạn biến động.

Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá - mô hình tài trợ nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn.

Theo đó, tiền gửi khách hàng tăng 5,5% từ đầu năm, thấp hơn mức tăng tín dụng (9%), vẫn là nguồn vốn chủ lực, nhưng mức độ lệ thuộc phân hóa mạnh giữa các ngân hàng.

Nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ, nhóm quốc doanh dựa vào tiền gửi nhiều hơn mặt bằng chung gồm BIDV (65,7%), Vietcombank (65,1%) và VietinBank (63,8%).

Trong khi đó, khối tư nhân lớn dùng nhiều vốn thị trường hơn, gồm MB (55,6%), Techcombank (52%) và VPBank (48,8%).

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Hai thái cực của ngành là NCB và SACOMBANK, với trên 72% nguồn vốn bằng tiền gửi truyền thống, còn NamABank (44,3%), OCB (45,4%) và MSB (46,4%) có quá nửa nguồn vốn đến từ kênh ngoài tiền gửi.

“Tuy nhiên, tỷ trọng tiền gửi khách hàng trên tổng nguồn vốn của toàn ngành đang giảm dần qua các quý” - nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ.

Toàn ngành huy động thêm 614 nghìn tỷ đồng riêng trong quý II (tăng 4,8% so với quý I) sau quý I gần như đi ngang (tăng 0,6%), đưa số dư lên 13,4 triệu tỷ đồng, tăng 5,5% từ đầu năm và 12,1% so với cùng kỳ.

Dù vậy, tốc độ này vẫn thấp hơn mức 9% của tín dụng, với 20/26 ngân hàng có tiền gửi tăng chậm hơn dư nợ và khoảng cách 3,5 điểm phần trăm giữa hai tốc độ là nguồn gốc của áp lực thanh khoản hiện nay.

Bốn ngân hàng ghi nhận tiền gửi giảm từ đầu năm, đó là: ACB (giảm 1,5%), EximBank (giảm 3,8%), Saigonbank (giảm 4,3%) và BacABank (giảm 5,4%), cho thấy ở phân khúc cạnh tranh gay gắt, ngân hàng không theo kịp mặt bằng lãi suất sẽ mất nguồn.

“Huy động sẽ tiếp tục là điểm nghẽn của nửa cuối năm, với tín dụng dự kiến tăng tốc theo hạn mức được cấp thêm, các ngân hàng phải giữ lãi suất huy động ở mức cao để thu hẹp khoảng cách và lợi thế nghiêng về nhóm có nền khách hàng gửi tiền rộng” - TCBS Research đánh giá.

Tăng tốc huy động vốn “đắt đỏ”, nhạy với lãi suất

Cũng theo TCBS Research, liên ngân hàng là kênh bù đắp nhanh nhất cho khoảng cách tín dụng - tiền gửi, nhưng đà tăng đã chậm lại trong nửa đầu năm 2026.

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Xét vị thế ròng, TCBS Research cho rằng, khối quốc doanh là bên cho vay ròng: Vietcombank cho vay ròng 215 nghìn tỷ đồng, BIDV 86 nghìn tỷ đồng, VietinBank 81 nghìn tỷ đồng.

VPBank vay ròng 149 nghìn tỷ đồng, MB 111 nghìn tỷ đồng và Techcombank 79 nghìn tỷ đồng, đây là những người đi vay ròng lớn nhất - nhóm có tỷ trọng vốn liên ngân hàng 16 - 28% và nhạy nhất với lãi suất thị trường 2.

Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác của 26 ngân hàng đạt 3,7 triệu tỷ đồng cuối quý II, tăng 46,1% so với cùng kỳ, nhưng chỉ tăng 5,9% từ đầu năm.

Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng căng thẳng từ cuối năm 2025 đến giữa năm 2026, vì hệ thống thiếu hụt huy động thị trường 1, trong khi Ngân hàng Nhà nước phải giữ mặt bằng cao để bảo vệ tỷ giá.

TCBS Research kỳ vọng, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ về cuối năm, ổn định ở mặt bằng thấp hơn, chứ không quay lại vùng 3 - 4% của 2025.

Lãi suất hạ trước hết làm giảm chi phí vốn của nhóm đi vay ròng lớn (VPBank, MB, Techcombank, MSB, TPBank); khối quốc doanh mất bớt thu nhập lãi từ thị trường 2, nhưng được nới dư địa tín dụng.

Ngoài ra, giấy tờ có giá là kênh huy động tăng nhanh nhất 2 năm qua và tiếp tục tăng tốc trong quý II.

Số dư của 26 ngân hàng đạt 1,96 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 16,7% từ đầu năm và 23,6% so với cùng kỳ, gấp 3 lần tốc độ 5,5% của tiền gửi khách hàng và gần gấp đôi quý II/2024. Tỷ trọng trong tổng huy động tăng từ 7,3% lên 9,8% trong 2 năm, với 18/26 ngân hàng tăng số dư từ đầu năm; riêng BIDV, ACB, VPBank và MB đóng góp phần lớn mức tăng 280 nghìn tỷ đồng của toàn ngành.

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Mức độ dựa vào giấy tờ có giá phân hóa rõ theo mô hình kinh doanh. Nhóm tư nhân lớn cho vay trung - dài hạn nhiều dùng kênh này mạnh nhất là OCB, ACB và Techcombank đều trên 20% tổng huy động, MB 15,5%, VPBank 13,5%; ACB và VPBank nâng tỷ trọng thêm 3 - 6 điểm phần trăm chỉ trong 6 tháng.

Khối quốc doanh đi hai hướng: BIDV tăng 33,9% lên 302 nghìn tỷ đồng, số dư lớn nhất hệ thống, trong khi VietinBank giảm 17,8% và Vietcombank giữ tỷ trọng rất thấp 1,7%, nhờ tiền gửi khách hàng và tiền gửi Kho bạc dồi dào.

“Động lực đẩy mạnh giấy tờ có giá nằm ở cả hai phía của bảng cân đối, huy động không theo kịp tín dụng và tài sản đang dài hạn hơn” - nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ.

TCBS Research đánh giá, giấy tờ có giá sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, vì đây là nguồn vốn đắt nhất trong cơ cấu huy động, chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao./.

“Làn sóng” tăng vốn là biến số đáng theo dõi

TCBS Research đánh giá, làn sóng tăng vốn là điều kiện để giữ nhịp tín dụng cao, mà không hạ hệ số an toàn vốn (CAR). Lịch bổ sung nguồn vốn dài hạn 2026 - 2027 rất dày.

Theo đó, Vietcombank chuẩn bị tối đa 10.000 tỷ đồng trái phiếu cấp 2, MB dự kiến 10.000 - 15.000 tỷ đồng vốn cấp 2, VPBank vay hợp vốn 1,44 tỷ USD kỳ hạn 3 - 7 năm; riêng SHB đã đưa 10.018 tỷ đồng vốn điều lệ mới vào hoạt động từ ngày 1/7/2026.

Nhu cầu cấp thiết nhất ở khối quốc doanh, nơi CAR mỏng nhất ngành và nguồn tăng vốn gần như chỉ trông vào lợi nhuận giữ lại. Nửa cuối năm, khi tín dụng tiếp tục đi trước huy động, tỷ trọng tiền gửi khó hồi phục nhanh; tiến độ các đợt phát hành vốn là biến số đáng theo dõi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

(TBTCO) - Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, Luật Bảo bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 (Luật BHTG năm 2025) có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, điều chỉnh thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, rút ngắn thời hạn chi trả và quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục. Những thay đổi này tạo cơ sở để người gửi tiền được tiếp cận khoản tiền bảo hiểm sớm hơn. Dưới đây là những nội dung người gửi tiền cần lưu ý.
Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm Agribank (ABIC) lãi trước thuế 333,2 tỷ đồng, tăng 33%, hoàn thành 95,2% kế hoạch năm. Động lực đến từ kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài chính, với danh mục đầu tư ngắn hạn hơn 3.800 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng. ABIC đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

(TBTCO) - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đối tác công nghệ Fermion Merimen tổ chức Lễ ký kết triển khai Hệ thống chiết khấu không khiếu nại (NCD), với sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Sự kiện đánh dấu bước tiến trong hợp tác xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá rủi ro, định phí và phục vụ khách hàng.
Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam lần thứ 9 – Vietnam Digital Awards 2026, hạng mục Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp Lumi – AI Customer Experience Platform (Lumi). Giải thưởng ghi nhận hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm mang lại trải nghiệm chăm sóc khách hàng vượt trội, nhanh chóng và thuận tiện.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Hà Nội - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Miền Tây - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
Trang sức 99.9 13,460 ▲80K 14,060 ▲80K
Trang sức 99.99 13,470 ▲80K 14,070 ▲80K
Vàng 99.9 12,980 ▲80K
Vàng 99.99 13,150 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▲1258K 14,272 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▲1258K 14,273 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 136 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 136 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▲1K 139 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲990K 137,624 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▲75K 10,441 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲680K 94,679 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲610K 84,948 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲583K 81,195 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲417K 58,119 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cập nhật: 28/10/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17642 17915 18495
CAD 17842 18116 18733
CHF 30495 30871 31518
CNY 0 3833 3928
EUR 28122 28338 29412
GBP 33569 33958 34900
HKD 0 3163 3365
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14184 14775
SGD 19622 19903 20468
THB 679 743 795
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,171 28,194 29,535
JPY 159.11 159.4 169.05
GBP 33,750 33,841 35,009
AUD 17,834 17,898 18,576
CAD 18,031 18,089 18,756
CHF 30,742 30,838 31,761
SGD 19,737 19,798 20,577
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.8 18.56 20.2
THB 727.98 736.97 789.16
NZD 14,176 14,308 14,737
SEK - 2,550 2,643
DKK - 3,779 3,913
NOK - 2,722 2,818
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.71 - 6,672.12
TWD 719.51 - 871.78
SAR - 6,766.5 7,128.82
KWD - 81,593 86,830
AED - 6,781 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,610 25,640 26,020
EUR 28,137 28,278 29,505
GBP 33,705 33,874 34,906
HKD 3,219 3,238 3,356
CHF 30,584 30,738 31,682
JPY 158.73 160.33 168.31
AUD 17,787 17,912 18,510
SGD 19,702 19,881 20,477
THB 733 748 785
CAD 17,987 18,114 18,712
NZD 14,231 14,785
KRW 18.70 20.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26020
AUD 17842 17942 18873
CAD 18032 18132 19146
CHF 30748 30778 32359
CNY 3814.8 3839.8 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28288 28318 30040
GBP 33864 33914 35682
HKD 0 3300 0
JPY 160.14 160.64 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14463 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19781 19911 20632
THB 0 709.1 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,549 25,669 25,970
USD20 25,519 25,669 25,970
USD1 25,499 25,669 25,970
AUD 17,757 17,907 19,086
EUR 28,088 28,188 29,630
CAD 17,975 18,075 19,384
SGD 19,857 20,007 20,564
JPY 160.56 162.06 167.63
GBP 33,763 33,913 34,991
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/10/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30