Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
aa
Áp lực đè nặng, ngân hàng “xoay xở” nhiều kênh huy động vốn Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phần lớn ngân hàng huy động hụt nhịp tín dụng

Trong báo cáo ngành ngân hàng - cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026, Công ty cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) nhận định, tiền gửi khách hàng vẫn là “xương sống” trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, với 59,8% tổng nguồn vốn, nhưng tỷ trọng đang co dần.

Trong 6 quý gần nhất, tỷ trọng tiền gửi khách hàng giảm từ 64,6% về 59,8% tổng nguồn vốn, trong khi liên ngân hàng tăng lên 16,5% từ 13,4% và giấy tờ có giá tăng lên 8,8% từ 8%. Nguyên nhân do khoảng cách tín dụng - huy động từ đầu năm đã lên 3,5 điểm phần trăm, buộc các ngân hàng vay liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá để bù phần chênh - nguồn huy động nhanh, nhưng chi phí phản ứng tức thì khi lãi suất ngắn hạn biến động.

Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá - mô hình tài trợ nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn.

Theo đó, tiền gửi khách hàng tăng 5,5% từ đầu năm, thấp hơn mức tăng tín dụng (9%), vẫn là nguồn vốn chủ lực, nhưng mức độ lệ thuộc phân hóa mạnh giữa các ngân hàng.

Nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ, nhóm quốc doanh dựa vào tiền gửi nhiều hơn mặt bằng chung gồm BIDV (65,7%), Vietcombank (65,1%) và VietinBank (63,8%).

Trong khi đó, khối tư nhân lớn dùng nhiều vốn thị trường hơn, gồm MB (55,6%), Techcombank (52%) và VPBank (48,8%).

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Hai thái cực của ngành là NCB và SACOMBANK, với trên 72% nguồn vốn bằng tiền gửi truyền thống, còn NamABank (44,3%), OCB (45,4%) và MSB (46,4%) có quá nửa nguồn vốn đến từ kênh ngoài tiền gửi.

“Tuy nhiên, tỷ trọng tiền gửi khách hàng trên tổng nguồn vốn của toàn ngành đang giảm dần qua các quý” - nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ.

Toàn ngành huy động thêm 614 nghìn tỷ đồng riêng trong quý II (tăng 4,8% so với quý I) sau quý I gần như đi ngang (tăng 0,6%), đưa số dư lên 13,4 triệu tỷ đồng, tăng 5,5% từ đầu năm và 12,1% so với cùng kỳ.

Dù vậy, tốc độ này vẫn thấp hơn mức 9% của tín dụng, với 20/26 ngân hàng có tiền gửi tăng chậm hơn dư nợ và khoảng cách 3,5 điểm phần trăm giữa hai tốc độ là nguồn gốc của áp lực thanh khoản hiện nay.

Bốn ngân hàng ghi nhận tiền gửi giảm từ đầu năm, đó là: ACB (giảm 1,5%), EximBank (giảm 3,8%), Saigonbank (giảm 4,3%) và BacABank (giảm 5,4%), cho thấy ở phân khúc cạnh tranh gay gắt, ngân hàng không theo kịp mặt bằng lãi suất sẽ mất nguồn.

“Huy động sẽ tiếp tục là điểm nghẽn của nửa cuối năm, với tín dụng dự kiến tăng tốc theo hạn mức được cấp thêm, các ngân hàng phải giữ lãi suất huy động ở mức cao để thu hẹp khoảng cách và lợi thế nghiêng về nhóm có nền khách hàng gửi tiền rộng” - TCBS Research đánh giá.

Tăng tốc huy động vốn “đắt đỏ”, nhạy với lãi suất

Cũng theo TCBS Research, liên ngân hàng là kênh bù đắp nhanh nhất cho khoảng cách tín dụng - tiền gửi, nhưng đà tăng đã chậm lại trong nửa đầu năm 2026.

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Xét vị thế ròng, TCBS Research cho rằng, khối quốc doanh là bên cho vay ròng: Vietcombank cho vay ròng 215 nghìn tỷ đồng, BIDV 86 nghìn tỷ đồng, VietinBank 81 nghìn tỷ đồng.

VPBank vay ròng 149 nghìn tỷ đồng, MB 111 nghìn tỷ đồng và Techcombank 79 nghìn tỷ đồng, đây là những người đi vay ròng lớn nhất - nhóm có tỷ trọng vốn liên ngân hàng 16 - 28% và nhạy nhất với lãi suất thị trường 2.

Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác của 26 ngân hàng đạt 3,7 triệu tỷ đồng cuối quý II, tăng 46,1% so với cùng kỳ, nhưng chỉ tăng 5,9% từ đầu năm.

Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng căng thẳng từ cuối năm 2025 đến giữa năm 2026, vì hệ thống thiếu hụt huy động thị trường 1, trong khi Ngân hàng Nhà nước phải giữ mặt bằng cao để bảo vệ tỷ giá.

TCBS Research kỳ vọng, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ về cuối năm, ổn định ở mặt bằng thấp hơn, chứ không quay lại vùng 3 - 4% của 2025.

Lãi suất hạ trước hết làm giảm chi phí vốn của nhóm đi vay ròng lớn (VPBank, MB, Techcombank, MSB, TPBank); khối quốc doanh mất bớt thu nhập lãi từ thị trường 2, nhưng được nới dư địa tín dụng.

Ngoài ra, giấy tờ có giá là kênh huy động tăng nhanh nhất 2 năm qua và tiếp tục tăng tốc trong quý II.

Số dư của 26 ngân hàng đạt 1,96 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 16,7% từ đầu năm và 23,6% so với cùng kỳ, gấp 3 lần tốc độ 5,5% của tiền gửi khách hàng và gần gấp đôi quý II/2024. Tỷ trọng trong tổng huy động tăng từ 7,3% lên 9,8% trong 2 năm, với 18/26 ngân hàng tăng số dư từ đầu năm; riêng BIDV, ACB, VPBank và MB đóng góp phần lớn mức tăng 280 nghìn tỷ đồng của toàn ngành.

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn
Nguồn: TCBS.

Mức độ dựa vào giấy tờ có giá phân hóa rõ theo mô hình kinh doanh. Nhóm tư nhân lớn cho vay trung - dài hạn nhiều dùng kênh này mạnh nhất là OCB, ACB và Techcombank đều trên 20% tổng huy động, MB 15,5%, VPBank 13,5%; ACB và VPBank nâng tỷ trọng thêm 3 - 6 điểm phần trăm chỉ trong 6 tháng.

Khối quốc doanh đi hai hướng: BIDV tăng 33,9% lên 302 nghìn tỷ đồng, số dư lớn nhất hệ thống, trong khi VietinBank giảm 17,8% và Vietcombank giữ tỷ trọng rất thấp 1,7%, nhờ tiền gửi khách hàng và tiền gửi Kho bạc dồi dào.

“Động lực đẩy mạnh giấy tờ có giá nằm ở cả hai phía của bảng cân đối, huy động không theo kịp tín dụng và tài sản đang dài hạn hơn” - nhóm phân tích của TCBS chỉ rõ.

TCBS Research đánh giá, giấy tờ có giá sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, vì đây là nguồn vốn đắt nhất trong cơ cấu huy động, chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao./.

“Làn sóng” tăng vốn là biến số đáng theo dõi

TCBS Research đánh giá, làn sóng tăng vốn là điều kiện để giữ nhịp tín dụng cao, mà không hạ hệ số an toàn vốn (CAR). Lịch bổ sung nguồn vốn dài hạn 2026 - 2027 rất dày.

Theo đó, Vietcombank chuẩn bị tối đa 10.000 tỷ đồng trái phiếu cấp 2, MB dự kiến 10.000 - 15.000 tỷ đồng vốn cấp 2, VPBank vay hợp vốn 1,44 tỷ USD kỳ hạn 3 - 7 năm; riêng SHB đã đưa 10.018 tỷ đồng vốn điều lệ mới vào hoạt động từ ngày 1/7/2026.

Nhu cầu cấp thiết nhất ở khối quốc doanh, nơi CAR mỏng nhất ngành và nguồn tăng vốn gần như chỉ trông vào lợi nhuận giữ lại. Nửa cuối năm, khi tín dụng tiếp tục đi trước huy động, tỷ trọng tiền gửi khó hồi phục nhanh; tiến độ các đợt phát hành vốn là biến số đáng theo dõi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

(TBTCO) - HDBank ghi dấu ấn trên bản đồ tài chính khu vực khi đứng thứ 2 về hiệu quả hoạt động trong bảng xếp hạng năm 2025 của S&P Global Market Intelligence dành cho 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời giữ vị trí cao nhất trong nhóm ngân hàng Việt Nam được đánh giá.
LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

(TBTCO) - Hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1 sau 5 tháng triển khai, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) chính thức đưa phiên bản mới vào vận hành từ ngày 4/10/2026, tạo bước tiến về năng lực xử lý, kết nối và an toàn giao dịch. Không chỉ củng cố hạ tầng thanh toán, đây còn là tiền đề để LPBank nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 2 với gần 50 tính năng, giải pháp và dịch vụ mới, góp phần nâng tầm trải nghiệm thanh toán số cho khách hàng.
Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings vừa nâng xếp hạng tiền gửi dài hạn và xếp hạng nhà phát hành của Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) từ B2 lên B1, đồng thời duy trì triển vọng Tích cực, ghi nhận những cải thiện về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời và năng lực vốn của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 7/10, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.645 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY giảm 0,25% xuống 101,85 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để tìm thêm tín hiệu chính sách.
Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

(TBTCO) - Các “thước đo”, giới hạn và tỷ lệ an toàn mới đặt ngân hàng trước những bài kiểm tra về độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản khi dòng tiền căng thẳng và sức chống đỡ rủi ro của nền vốn, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel III. Qua đó, “sức khỏe” và khả năng chống chịu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.
Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Vietcombank - Kết nối các nhà đầu tư Singapore với cơ hội mở rộng đầu tư tại Việt Nam

(TBTCO) - Vừa qua, tại Singapore, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Liên đoàn Sản xuất Singapore (SMF) tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam với chủ đề: “Việt Nam - Điểm sáng kinh doanh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,000 14,300
Miếng SJC Nghệ An 14,000 14,300
Miếng SJC Thái Bình 14,000 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 14,300
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,580 14,180
Trang sức 99.99 13,590 14,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 14,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 14,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cập nhật: 08/10/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17545 17818 18397
CAD 17729 18003 18624
CHF 30566 30942 31584
CNY 0 3833 3929
EUR 28450 28667 29747
GBP 33532 33920 34868
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14240 14827
SGD 19759 20041 20612
THB 686 749 803
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26173
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 28,591 28,614 29,972
JPY 159.65 159.94 169.62
GBP 33,797 33,889 35,062
AUD 17,772 17,836 18,517
CAD 17,928 17,986 18,648
CHF 30,816 30,912 31,823
SGD 19,891 19,953 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,390
KRW 17.86 18.63 20.28
THB 735.58 744.66 797.56
NZD 14,247 14,379 14,808
SEK - 2,544 2,636
DKK - 3,835 3,971
NOK - 2,670 2,764
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,942.67 - 6,706.83
TWD 735.92 - 891.61
SAR - 6,803.67 7,166.81
KWD - 82,055 87,314
AED - 6,819 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 28,738 28,853 30,060
GBP 33,869 34,005 35,038
HKD 3,245 3,258 3,375
CHF 30,710 30,833 31,779
JPY 160.38 161.02 169
AUD 17,840 17,912 18,511
SGD 19,996 20,076 20,673
THB 754 757 794
CAD 17,969 18,041 18,640
NZD 14,361 14,917
KRW 18.73 20.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25805 26165
AUD 17751 17851 18782
CAD 17915 18015 19028
CHF 30780 30810 32387
CNY 3815.7 3840.7 3975.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28632 28662 30388
GBP 33870 33920 35683
HKD 0 3315 0
JPY 160.65 161.15 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14362 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19922 20052 20776
THB 0 715.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 08/10/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30