Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
aa

Thị trường trong nước

Sáng 15/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.617 đồng, tăng 10 đồng so với phiên trước. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng được điều chỉnh tương ứng.

Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 24.336,15 - 26.897,85 VND/USD.

Trên thị trường tự do, USD dao động trong biên độ hẹp quanh 25.760 - 25.810 VND/USD, tăng 10 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán so với phiên trước.

Tại các ngân hàng thương mại, sáng 15/9, diễn biến tỷ giá phân hóa giữa các đồng tiền, trong đó USD và GBP tăng khá rõ, CNY nhích lên, còn EUR và JPY đồng loạt giảm.

Theo đó, tỷ giá USD tăng mạnh tại cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở mức 25.770 - 26.180 VND/USD, cùng tăng 70 đồng ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD mua vào - bán ra đạt 25.800 - 26.180 VND/USD, cũng đồng loạt tăng 70 đồng.

Diễn biến tỷ giá USD, EUR, GBP, JPY, CNY tại Vietcombank, BIDV phiên sáng 15/9 như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực
Biến động tỷ giá ngoại tệ so với phiên trước. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tỷ giá CNY duy trì đà tăng tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết tỷ giá CNY mua vào - bán ra ở mức 3.776,03 - 3.936,39 VND/CNY, tăng lần lượt 10,07 đồng và 10,48 đồng. Tại BIDV, tỷ giá CNY mua vào - bán ra đạt 3.799 - 3.945 VND/CNY, tăng tương ứng 10 đồng và 11 đồng.

Thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng mạnh 0,38% lên 99,56 điểm.

Theo giới phân tích, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) ở thế tiến thoái lưỡng nan trong nhiều tháng qua. Fed đang đứng trước hai yêu cầu trái chiều, một mặt, cần tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, mặt khác lại cần hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế vốn đang chịu gánh nặng nợ lớn. Fed khó có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu này.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Jackson Hole cách đây vài tuần, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tiếp tục nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát. Chủ tịch Fed khẳng định mục tiêu ổn định giá cả ở mức 2%, được đo bằng chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE), là mục tiêu chắc chắn và cố định, qua đó, nhấn mạnh nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là giữ lạm phát trong tầm kiểm soát.

Áp lực đối với Fed càng gia tăng sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất, trong khi các nhà đầu tư đánh giá những dữ liệu lạm phát mới nhất của Mỹ trước cuộc họp Fed trong tuần này.

Sau khi số liệu CPI được công bố, thị trường gia tăng kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. Xác suất Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản trong tuần này được định giá khoảng 90%, tăng mạnh so với khoảng 70% trước khi dữ liệu lạm phát được công bố.

Lạm phát toàn phần tháng 8 giữ ở mức 3,4% so với cùng kỳ năm trước, đúng như kỳ vọng; CPI tăng 0,4% so với tháng trước, mức tăng nhanh nhất trong ba tháng.

Đáng chú ý, lạm phát cơ bản tăng 0,3% so với tháng trước, mạnh nhất kể từ tháng 4 và cao hơn mức dự báo 0,2%. Tuy nhiên, xét theo năm, lạm phát cơ bản lại giảm tốc xuống 2,4%, mức thấp nhất kể từ tháng 3/2021.

Trước đó, dữ liệu giá sản xuất cũng cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, một phần do chi phí năng lượng leo thang trong bối cảnh xung đột với Iran. Trong khi đó, thị trường lao động Mỹ vẫn tương đối ổn định.

Áp lực lạm phát còn đến từ giá năng lượng. Giá dầu thô WTI nối dài đà tăng, giao dịch quanh 102,5 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent tiến sát 107 USD/thùng trong phiên châu Á. Giá dầu duy trì ở mức cao có thể tiếp tục gây sức ép lên lạm phát, khiến bài toán chính sách của Fed thêm phức tạp.

Theo đánh giá của Khối thị trường tài chính Ngân hàng ACB, khả năng cao ngân hàng trung ương Mỹ có thể tăng lãi suất lần đầu tiên trong năm 2026 vào sáng thứ năm tuần này, trong khi không loại trừ khả năng có thể có thêm một đợt tăng nữa trong quý IV/2026, khi giá dầu thế giới tiếp tục tăng mạnh vào thời điểm hiện tại. Giá dầu Brent tối qua đã gần chạm mức 110 USD/thùng, đánh dấu mức tăng khoảng 75% tính từ đầu năm đến nay.

Tuy nhiên, một môi trường lãi suất cao hơn cũng đặt ra thách thức lớn đối với nền kinh tế Mỹ, nhất là khi nợ chính phủ đã lên tới khoảng 40 nghìn tỷ USD.

Lãi suất cao kéo dài làm tăng chi phí vay và chi phí trả nợ, qua đó, thu hẹp dư địa tài khóa và gây thêm sức ép lên nền kinh tế.

Bên cạnh các yếu tố kinh tế, Fed còn phải đối mặt với áp lực chính trị. Tổng thống Donald Trump đã đe dọa cắt đứt thương mại với những quốc gia có thặng dư thương mại với Mỹ nếu ngân hàng trung ương không hạ lãi suất. Dù lập luận này gây nhiều tranh luận, sức ép chính trị vẫn là một yếu tố đáng chú ý./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 11/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.596 đồng, USD tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt đi lên, còn chỉ số DXY vượt 99 điểm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5%, lần tăng thứ hai năm nay, để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất, trong bối cảnh giá dầu tiến sát 110 USD/thùng.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (9/9): Tỷ giá trung tâm rời mốc 25.600 đồng, kỳ vọng ECB tăng lãi suất gây sức ép lên USD

Tỷ giá USD hôm nay (9/9): Tỷ giá trung tâm rời mốc 25.600 đồng, kỳ vọng ECB tăng lãi suất gây sức ép lên USD

(TBTCO) - Sáng 9/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng xuống 25.594 đồng, mất mốc 25.600 đồng sau nhiều phiên neo cao; USD tại các ngân hàng giảm mạnh hơn. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,08% xuống 98,78 điểm, đồng USD chịu thêm sức ép khi kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 2,5% đang hỗ trợ đồng euro.
Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/9, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng, xuống 25.603 đồng/USD; USD tại ngân hàng và thị trường tự do cùng đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,08%, xuống 98,85 điểm. Đồng yên Nhật tiếp tục mạnh lên, kéo tỷ giá USD/JPY xuống gần 153,5 - thấp nhất 6 tháng, khi Nhật Bản chi kỷ lục 98 tỷ USD can thiệp và thị trường kỳ vọng BoJ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.
Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

(TBTCO) - Sáng 7/9, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần tăng 6 đồng, lên 25.611 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,05% xuống 99,14 điểm. Tâm điểm tuần này là CPI Mỹ tháng 8, dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng trước cuộc họp ngày 16/9, khi thị trường nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (5/9): Tỷ giá trung tâm dứt 16 tuần leo dốc, việc làm Mỹ tăng vọt củng cố Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (5/9): Tỷ giá trung tâm dứt 16 tuần leo dốc, việc làm Mỹ tăng vọt củng cố Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 5/9, tỷ giá trung tâm kết tuần ở 25.605 đồng, giảm 5 đồng, đảo chiều sau 16 tuần tăng ròng rã tổng cộng 495 đồng; USD ngân hàng và tự do cùng hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,16 điểm, bật tăng sau báo cáo việc làm Mỹ tích cực, với 162.000 việc làm được tạo thêm trong tháng 8, vượt dự báo củng cố dư địa để Fed cân nhắc tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18005 18280 18864
CAD 18164 18440 19057
CHF 31134 31512 32167
CNY 0 3832 3928
EUR 29367 29588 30669
GBP 34257 34648 35596
HKD 0 3184 3387
JPY 161 164 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14673 15263
SGD 19909 20191 20763
THB 697 760 814
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,406 29,430 30,827
JPY 163.41 163.7 173.6
GBP 34,432 34,525 35,733
AUD 18,195 18,261 18,959
CAD 18,341 18,400 19,077
CHF 31,383 31,481 32,417
SGD 20,026 20,088 20,876
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.77 18.53 20.17
THB 745.9 755.11 808.52
NZD 14,674 14,810 15,252
SEK - 2,616 2,709
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,738 2,836
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,961.33 - 6,728.7
TWD 739.82 - 896.33
SAR - 6,801.36 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,444 29,562 30,759
GBP 34,455 34,593 35,622
HKD 3,246 3,259 3,375
CHF 31,251 31,377 32,313
JPY 163.96 164.62 172.60
AUD 18,204 18,277 18,871
SGD 20,100 20,181 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,355 18,429 19,019
NZD 14,765 15,305
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26165
AUD 18183 18283 19208
CAD 18334 18434 19448
CHF 31371 31401 32982
CNY 3812.9 3837.9 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29544 29574 31299
GBP 34558 34608 36376
HKD 0 3305 0
JPY 164.54 165.04 175.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14805 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20919
THB 0 726.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30