Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
aa

Nhiều dòng chảy đổi chiều, “khoảng cách” vẫn chưa lấp đầy

Một thông tin khiến giới phân tích khá bất ngờ, đó là tín dụng tăng 8,38% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng tới 8,77%. Thoạt nhìn, hiếm khi huy động đuổi kịp, thậm chí vượt tốc độ tăng tín dụng. Tuy nhiên, đằng sau con số này cần được nhìn kỹ hơn, bởi đây mới là mức tăng của tín dụng và huy động bằng VND, trong khi quy mô tuyệt đối chưa được công bố.

Bức tranh thay đổi đáng kể khi tính cả ngoại tệ. Tín dụng ngoại tệ tăng tới 47,73%; trong khi huy động ngoại tệ giảm 1,58%. Sự lệch pha này khiến tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đến ngày 22/8 tăng 9,71%, vẫn nhanh hơn mức tăng 7,97% của huy động vốn.

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Đồ họa: Tư liệu

Dù vậy, huy động vốn đang tăng tốc thêm 2,22 điểm phần trăm trong khoảng ba tuần, trong khi tín dụng chỉ tăng thêm 0,73 điểm phần trăm.

Xu hướng dòng tiền quay trở lại hệ thống phần nào được nhìn thấy từ diễn biến lãi suất. Chia sẻ gần đây, theo ông Vũ Minh Trường - Phó Tổng Giám đốc VPBank, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 gần đây phổ biến khoảng 8,5 - 9%/năm. Với chênh lệch giữa lãi suất VND và ngoại tệ lên tới 5 điểm phần trăm, dòng tiền có xu hướng quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Bình luận rõ hơn về sự dịch chuyển này, ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, mức tăng tốc này không đến từ một nguyên nhân đơn lẻ, mà là kết quả cộng hưởng của hai dòng chảy cùng đổi chiều trong tháng 8.

Ông Tùng phân tích, thứ nhất, tiền mặt quay trở lại hệ thống, đây là yếu tố mang tính cấu trúc và là yếu tố quan trọng nhất.

“Khoảng trống” được lấp bằng nguồn vốn kém ổn định

“Gốc rễ nằm ở chênh lệch giữa cung và cầu vốn, chứ không nằm ở ý chí điều hành. Khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng giữa tín dụng và huy động thị trường 1 được tài trợ bằng các nguồn kém ổn định hơn tiền gửi dân cư: vốn thị trường liên ngân hàng, tiền gửi Kho bạc, giấy tờ có giá và gần đây là các khoản vay hợp vốn quốc tế. Chừng nào khoảng cách đó chưa được thu hẹp về mặt cấu trúc, tiền gửi vẫn là nguồn vốn khan hiếm và các ngân hàng khó có thể hạ lãi suất một cách ổn định”.

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích VDSC.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán tăng lên vùng đỉnh trên 12% tháng 2/2026, khi một bộ phận hộ kinh doanh và người dân giữ tiền ngoài hệ thống. Đến tháng 6/2026, lùi về quanh 10% và nhiều khả năng tiếp tục xu hướng giảm.

“Nguyên nhân đến từ việc các kênh đầu tư tài sản “ngoài hệ thống” đang được các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ hơn, đồng thời hiệu suất cũng kém hấp dẫn đi rõ rệt: chênh lệch giữa giá vàng SJC và giá thế giới đang ở vùng thấp trong lịch sử, tỷ giá USD trên thị trường tự do thậm chí thấp hơn tỷ giá chính thức, trong khi lãi suất tiền gửi VND vẫn ở mặt bằng cao” - ông Tùng nêu quan điểm.

Thứ hai, về chính sách tài khóa, chính sách giãn thời gian nộp các loại thuế, tiền thuê đất, với tổng quy mô khoảng 125.000 tỷ đồng có hiệu lực từ tháng 6/2026 làm giảm tốc độ hút tiền về Kho bạc.

Số liệu của Cục Thống kê cũng cho thấy, tháng 8, ngân sách nhà nước chuyển sang chi ròng, kéo thặng dư lũy kế 8 tháng xuống 415.000 tỷ đồng, từ hơn 470.000 tỷ đồng cuối tháng 7. “Đây là lượng tiền chảy thẳng vào hệ thống ngân hàng thương mại” - chuyên gia VDSC nhận định.

Ông Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cũng cho rằng, khi lãi suất huy động tăng lên, nguồn vốn có thể chuyển từ những kênh khác như: vàng và chứng khoán, trở lại ngân hàng.

Ngoài ra, một phần đáng kể tiền gửi tăng đến từ lãi nhập gốc, chứ không hoàn toàn là dòng tiền mới vào hệ thống.

Thanh khoản “dễ thở” hơn, nhưng “cơn khát” vốn chưa qua

Trước những tín hiệu tích cực từ phía huy động, câu hỏi đặt ra là liệu thanh khoản hệ thống đã thực sự cải thiện?

Theo góc nhìn của chuyên gia phân tích VDSC, hệ thống “dễ thở” hơn và có thể kỳ vọng vào sự phục hồi từng bước của huy động tiền gửi, nhưng thanh khoản chưa thể gọi là dồi dào.

Ông Đỗ Thanh Tùng cho rằng, ở phía tích cực, các tín hiệu là rõ ràng và đồng thuận. Theo đó, chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng thu hẹp hơn 230.000 tỷ đồng ngay tháng 8; lãi suất liên ngân hàng qua đêm giảm về vùng thấp nhất 2 năm, dù quy mô lưu hành trên thị trường mở (OMO) không quá cao, khoảng 250.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, cần nhìn cả phần chưa được giải quyết, đó là chênh lệch lũy kế giữa dư nợ tín dụng (khoảng 20,4 triệu tỷ đồng) và huy động vốn (khoảng 17,8 triệu tỷ đồng) vẫn ở mức khoảng 2,5 triệu tỷ đồng. Nguồn tiền gửi nội tại của nền kinh tế từ thị trường 1, mặc dù tốt lên trong thời gian gần đây, vẫn chưa thực sự cải thiện một cách cấu trúc.

Thực tế này dẫn đến kết quả về cấu trúc đường cong của lãi suất liên ngân hàng, khi lãi suất qua đêm xuống thấp 1 - 3% tuần đầu tháng 9, trong khi kỳ hạn 3 tháng vẫn quanh 7 - 8%. “Đường cong dốc như vậy cho thấy hệ thống dư thừa thanh khoản tức thời, nhưng vẫn thiếu nguồn vốn ổn định, có kỳ hạn” - chuyên gia VDSC lưu ý.

Cũng theo chuyên gia Phạm Xuân Hòe, áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng chưa hẳn đã giảm bớt hoàn toàn.

Vòng quay tiền tệ còn khoảng 0,55 - 0,65 lần, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước. "Những năm còn công tác tại Ngân hàng Nhà nước, chỉ tiêu này thường ở mức hơn 1 lần, khi giảm cũng còn khoảng 0,8 - 0,9 lần” - ông Hòe lưu ý.

Vòng quay tiền tệ giảm sâu khiến thanh khoản khó dồi dào, hạn chế dư địa giảm lãi suất, trong khi nhu cầu vốn, đặc biệt vốn trung, dài hạn cho các dự án lớn, vẫn rất cao.

Áp lực càng rõ khi tín dụng đang “phình” nhanh hơn so với quy mô nền kinh tế. Từ khoảng 3 triệu tỷ đồng năm 2012, dư nợ tín dụng hiện đã vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 6 - 7 lần, trong khi GDP chỉ tăng khoảng 3 lần. Tỷ lệ tín dụng/GDP được dự báo lên tới 155% vào cuối năm nay.

Khi những vấn đề “gốc rễ” và áp lực vĩ mô vẫn hiện hữu, việc “cơi nới” một số giới hạn từ phía nhà điều hành cũng khó giải tỏa áp lực thanh khoản và tạo đủ dư địa đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn.

Lãi suất huy động khó giảm, cuộc đua huy động vẫn âm ỉ

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/9 cho thấy, gần một tháng sau cuộc họp ngày 13/8 giữa lãnh đạo Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, mặt bằng lãi suất huy động gần như “lặng sóng", khả năng giảm diện rộng ngày càng hạn chế. Diễn biến này trái ngược với đợt giảm khá ồ ạt sau cuộc họp đầu tiên với tân Thống đốc cách đó 4 tháng.

Đơn cử, sau ngày 13/8, Hong Leong giảm mạnh nhất 0,5 điểm phần trăm kỳ hạn 6 và 12 tháng, còn 6,3% và 6,5%/năm. VCBNeo và LPBank chỉ giảm 0,1 điểm phần trăm một số kỳ hạn, song vẫn nhỉnh hơn đầu tháng; trong khi SeABank đã điều chỉnh trước cuộc họp. Trái lại, tính từ đầu tháng 8, VPBank và UOB lần lượt tăng 0,2 và 0,3 điểm phần trăm lãi suất kỳ hạn 6 và 12 tháng, cùng lên 6%/năm.

Cùng với đó, lãi suất huy động thực tế vẫn “vênh” đáng kể so với niêm yết, kỳ hạn 12 tháng phổ biến 8,8 - 9,5%/năm, cho thấy áp lực huy động vốn vẫn cao.

Dù thanh khoản cải thiện và lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn khá “nóng”. Theo lãnh đạo VPBank, nguyên nhân là các ngân hàng có xu hướng củng cố nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp, nhằm cải thiện các chỉ số thanh khoản theo quy định, cũng như các chuẩn mực quốc tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30