Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
aa

Thông tin trên được bà Nguyễn Thị Hòa, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khu vực 1, đưa ra tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030, do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức chiều 12/9.

Theo bà Hòa, bám sát định hướng của NHNN Việt Nam và UBND Thành phố, NHNN khu vực 1 đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tập trung tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro...

Kết quả, Hà Nội tiếp tục là địa bàn dẫn đầu cả nước về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay, chiếm khoảng 37% tổng huy động vốn và hơn 31% dư nợ cho vay của toàn nền kinh tế.

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới
Bà Nguyễn Thị Hòa, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hoàng Giáp

Trong 8 tháng đầu năm, huy động vốn trên địa bàn tăng 10,78%, trong khi dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đều cao hơn mức tăng chung của toàn hệ thống. Theo bà Hòa, diễn biến này cho thấy các TCTD vừa mở rộng cung ứng vốn, vừa chủ động tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

Tuy nhiên, tốc độ tăng dư nợ cao hơn huy động vốn cũng đặt ra áp lực đối với chi phí và cân đối nguồn vốn của các TCTD. Đây là vấn đề cần được tính toán sớm trong bối cảnh nhu cầu giải ngân các chương trình, dự án lớn dự kiến tăng cao trong giai đoạn 2027-2029.

Theo Giám đốc NHNN khu vực 1, nhu cầu vốn tín dụng của kinh tế Thủ đô trong giai đoạn 2026-2030 rất đa dạng, trong đó có hai nhóm chính.

Đối với nhu cầu vốn thường xuyên cho sản xuất, kinh doanh, vốn phát sinh liên tục và phân tán ở nhiều ngành, lĩnh vực, chủ thể. Đây là nguồn vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh; vốn đầu tư mở rộng quy mô, đổi mới máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; đồng thời phục vụ những lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Trong khi đó, nhu cầu vốn cho các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố có quy mô vốn lớn, thời gian thực hiện và hoàn vốn dài, nhu cầu giải ngân tập trung theo từng giai đoạn. Do đó, các dự án này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều nguồn lực với cơ cấu và phương thức tài trợ phù hợp.

Thực tế, đến ngày 30/6/2026, đã có 13 TCTD tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng trên 63.000 tỷ đồng; dư nợ đạt gần 15.000 tỷ đồng, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm trên 65%...

Theo NHNN Khu vực 1, để khơi thông nguồn lực tài chính cho phát triển Thủ đô cần triển khai đồng bộ từ Nhà nước, TCTD đến doanh nghiệp; đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, nâng năng lực hấp thụ vốn và mở rộng các nguồn vốn trung, dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng.

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới
8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%. Ảnh minh họa

Một trong những giải pháp được đề xuất là đổi mới đánh giá tín dụng theo hướng dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hiệu quả phương án và khả năng trả nợ, từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Các TCTD cần tinh gọn quy trình, tăng chia sẻ dữ liệu, phát triển sản phẩm phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các lĩnh vực động lực tăng trưởng mới.

Đối với dự án lớn, cần đẩy mạnh hợp vốn, đồng tài trợ, tài trợ theo chuỗi và xây dựng lộ trình cung ứng vốn gắn với tiến độ triển khai, qua đó phân bổ nhu cầu vốn phù hợp với năng lực từng TCTD và kiểm soát rủi ro.

NHNN khu vực 1 đề nghị Hà Nội phát huy cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 258/2025/QH15 và Luật Thủ đô, tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và các điều kiện pháp lý để dự án đủ điều kiện thẩm định, giải ngân. Thành phố cũng cần chia sẻ thông tin về danh mục dự án, tiến độ, nhu cầu vốn, phương án tài chính và khả năng hoàn vốn để xác định cơ cấu vốn phù hợp.

Bên cạnh tín dụng ngân hàng, Hà Nội được đề xuất đa dạng hóa các kênh huy động như trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu xanh; đồng thời khai thác nguồn lực từ đất, tín chỉ carbon, ODA, vốn vay ưu đãi và PPP.../.

Nguyên Phương

Đọc thêm

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

(TBTCO) - Ngày 29/10, Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”, tập trung bàn giải pháp đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.
PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.748,9 tỷ đồng, tăng 17,6%, hoàn thành 140,7% kế hoạch năm. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 10,2%, giúp Bảo hiểm PVI dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Danh mục đầu tư của PVI rất đa dạng gần 20.000 tỷ đồng, trong đó tiền gửi chiếm tỷ trọng chủ đạo.
Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.060 USD/ounce sau quyết định giữ lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng ở nhiều thương hiệu.
Chủ động điều tiết "van" tín dụng bất động sản

Chủ động điều tiết "van" tín dụng bất động sản

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng bất động sản vượt 5,2 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong 8 tháng, tín dụng kinh doanh địa ốc tăng gần 20%, trong khi nhóm tiêu dùng gần như đi ngang. Bài toán điều tiết vì vậy không chỉ nằm ở room tín dụng, mà còn ở cơ cấu dòng vốn.
Nhiều chỉ tiêu VietABank "về đích" sớm sau 9 tháng, ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ tồn đọng

Nhiều chỉ tiêu VietABank "về đích" sớm sau 9 tháng, ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ tồn đọng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.191,1 tỷ đồng, tăng 13,4%, nhờ thu nhập ngoài lãi tăng trưởng và chi phí dự phòng giảm mạnh sau khi xử lý các khoản nợ tồn đọng. Nhiều chỉ tiêu "về đích" sớm, trong đó tổng tài sản đạt 156.490 tỷ đồng, tăng 11,4% so với đầu năm; huy động vốn cũng vượt kế hoạch năm.
VAMC - SAMC lan tỏa kinh nghiệm xử lý nợ xấu, tăng cường hợp tác với Lào

VAMC - SAMC lan tỏa kinh nghiệm xử lý nợ xấu, tăng cường hợp tác với Lào

(TBTCO) - Từ ngày 26 - 28/10, tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) tổ chức chương trình trao đổi kinh nghiệm và đào tạo chuyên sâu về mua, quản lý và xử lý nợ xấu dành cho Công ty Quản lý nợ và tài sản Nhà nước Lào (SAMC).
NCB giữ vững đà tăng trưởng, vượt kế hoạch kinh doanh năm 2026 sau 9 tháng

NCB giữ vững đà tăng trưởng, vượt kế hoạch kinh doanh năm 2026 sau 9 tháng

(TBTCO) - Kết thúc 9 tháng năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) xác lập mức lợi nhuận sau thuế cao nhất trong lịch sử hoạt động, cho thấy những chuyển biến rõ nét về năng lực và hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn phát triển mới.
Doanh thu bảo hiểm nhân thọ vượt 100.000 tỷ đồng, bảo hiểm tử kỳ chiếm hơn 50% hợp đồng mới

Doanh thu bảo hiểm nhân thọ vượt 100.000 tỷ đồng, bảo hiểm tử kỳ chiếm hơn 50% hợp đồng mới

(TBTCO) - Sau 9 tháng năm 2026, thị trường bảo hiểm nhân thọ ghi nhận 1,14 triệu hợp đồng khai thác mới, tăng 4,3%; trong đó, bảo hiểm tử kỳ chiếm tỷ trọng áp đảo 50%, tăng 54% cùng kỳ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 101.621 tỷ đồng, các doanh nghiệp tiếp tục đổi mới sản phẩm, đẩy mạnh số hóa dịch vụ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 141,000
Hà Nội - PNJ 137,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 137,000 141,000
Miền Tây - PNJ 137,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 137,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 14,150
Trang sức 99.9 13,430 14,030
Trang sức 99.99 13,440 14,040
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,352 1,392
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,352 1,393
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,832 136,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,401 10,381
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,335 94,135
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,466 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,929 80,729
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,985 57,785
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 30/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17633 17906 18485
CAD 17930 18205 18822
CHF 30531 30907 31549
CNY 0 3834 3930
EUR 28160 28376 29459
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3160 3363
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14187 14777
SGD 19617 19898 20469
THB 681 744 797
USD (1,2) 25561 0 0
USD (5,10,20) 25599 0 0
USD (50,100) 25626 25640 26010
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,645 25,645 26,025
USD(1-2-5) 24,620 - -
USD(10-20) 24,620 - -
EUR 28,199 28,222 29,561
JPY 159.17 159.46 169.11
GBP 33,776 33,867 35,040
AUD 17,851 17,915 18,596
CAD 18,110 18,168 18,842
CHF 30,799 30,895 31,808
SGD 19,750 19,811 20,589
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,226 3,236 3,372
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.35 738.36 790.64
NZD 14,183 14,315 14,744
SEK - 2,561 2,651
DKK - 3,783 3,917
NOK - 2,739 2,839
LAK - 0.87 1.22
MYR 5,944.47 - 6,710.29
TWD 716.41 - 868.02
SAR - 6,766.09 7,127.83
KWD - 81,551 86,785
AED - 6,779 7,306
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,196 28,338 29,566
GBP 33,760 33,930 34,963
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,623 30,777 31,722
JPY 158.80 160.40 168.36
AUD 17,845 17,971 18,570
SGD 19,718 19,897 20,493
THB 735 750 787
CAD 18,084 18,211 18,810
NZD 14,287 14,842
KRW 18.69 20.65
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25615 25645 26005
AUD 17808 17908 18838
CAD 18100 18200 19213
CHF 30763 30793 32367
CNY 3816.6 3841.6 3977
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28298 28328 30054
GBP 33868 33918 35676
HKD 0 3300 0
JPY 159.97 160.47 171.01
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14285 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19772 19902 20624
THB 0 709.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,544 25,664 25,960
USD20 25,514 25,664 25,960
USD1 25,494 25,664 25,960
AUD 17,785 17,935 18,812
EUR 28,108 28,208 29,685
CAD 18,057 18,157 19,463
SGD 19,867 20,017 20,573
JPY 160.6 162.1 167.66
GBP 33,775 33,925 35,237
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,798 0
THB 0 745 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30