Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
aa

Chi trả bảo hiểm tăng hai chữ số, vượt doanh thu phí bảo hiểm về tốc độ

Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm trong 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39% so với cùng kỳ.

Mức tăng này cao hơn đáng kể mức tăng 3,45% của tổng doanh thu phí bảo hiểm. Kết quả cho thấy vai trò bảo vệ và năng lực thực hiện cam kết với khách hàng ngày càng được phát huy, song cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị bồi thường, dự phòng tại các doanh nghiệp bảo hiểm.

Thực tế, hoạt động bồi thường cho thấy sự đồng hành của doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng trước nhiều loại rủi ro, từ những sự cố truyền thống đến các rủi ro mới phát sinh trong quá trình số hóa. Đơn cử, sau vụ lật xe khách nghiêm trọng tại Gia Lai cuối tháng 8/2026, DBV đã tạm ứng 420 triệu đồng để chủ xe kịp thời hỗ trợ gia đình 4 nạn nhân tử vong và tiếp tục hoàn thiện hồ sơ giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro
Chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm 6 tháng tại Tập đoàn Bảo Việt ở mức 16.737 tỷ đồng. Ảnh tư liệu

Ở một lĩnh vực khác, BIC đã chi trả 14 triệu đồng, tương đương 100% thiệt hại thực tế, cho khách hàng tại Hà Nội bị lừa chuyển tiền qua website giả mạo. Nhờ tham gia bảo hiểm Bảo an tài khoản, khách hàng được bồi thường toàn bộ số tiền bị mất, qua đó, giảm thiểu tổn thất trước rủi ro lừa đảo trên môi trường số.

Những trường hợp này cho thấy phạm vi bảo vệ của bảo hiểm ngày càng đa dạng và phản ánh vai trò của bảo hiểm trong hỗ trợ khách hàng khắc phục tổn thất khi sự cố xảy ra.

Ở quy mô rộng hơn, mức chi tại các doanh nghiệp cũng cho thấy rõ xu hướng này. Nửa đầu năm, tổng chi bồi thường của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết đạt gần 25.975 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm tăng 54,4%, cùng với các khoản thu đòi người thứ ba, dự phòng..., góp phần chia sẻ áp lực bồi thường. Qua đó, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm ở mức 24.172 tỷ đồng, chỉ tăng 1,9%.

Chủ động phương án ứng phó rủi ro tổn thất lớn cuối năm

Tại Việt Nam, bão lớn thường tập trung vào cuối quý III và quý IV, đặc biệt trong hai năm liên tiếp 2024 - 2025, số tiền bồi thường bảo hiểm lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, từ tháng 9 - 11 năm nay, có khoảng 3 - 5 cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, thấp hơn trung bình nhiều năm. Dù vậy, việc đánh giá rủi ro từ khâu cấp đơn và xây dựng chương trình tái bảo hiểm phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trước tổn thất lớn.

Đơn cử, Tập đoàn Bảo Việt kinh doanh cả nhân thọ và phi nhân thọ ghi nhận quy mô chi trả vượt trội, với tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm 6 tháng ở mức 16.737 tỷ đồng, giảm 2,6% cùng kỳ, dù chi bồi thường tăng 17% lên 11.752 tỷ đồng.

Ở nhóm phi nhân thọ, PVI chi bồi thường lớn nhất, đạt 5.310 tỷ đồng, tăng 66,4%; song thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm cũng tăng 102,7%, qua đó, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm chỉ tăng 14,3%, lên 1.674 tỷ đồng.

DBV cũng ghi nhận chi bồi thường tăng mạnh 79,2% lên 1.148 tỷ đồng, nhưng thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm tăng tới 158,7%, giúp tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm chỉ tăng 13,3%, lên 382 tỷ đồng.

Điều này cho thấy bồi thường phát sinh tăng mạnh, nhưng chi phí thực tế còn phụ thuộc vào khả năng thu hồi và các cơ chế chia sẻ rủi ro. Trong đó, thu đòi người thứ ba giúp doanh nghiệp thu hồi một phần tổn thất; nhượng tái bảo hiểm san sẻ nghĩa vụ chi trả, đặc biệt trong bảo hiểm phi nhân thọ; còn dự phòng đóng vai trò “bộ đệm” giúp doanh nghiệp quản trị nghĩa vụ bồi thường.

Tạo “bộ đệm” trước tổn thất lớn, số hóa chi trả

Chia sẻ tại hội nghị nhà đầu tư mới đây, bà Nguyễn Vũ Tâm - Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm PVI cho biết, chi phí bồi thường năm nay tăng cao, một phần do các khoản dự phòng bồi thường từ những tổn thất do bão cuối năm 2025 được chuyển sang bồi thường phải trả trong năm 2026. Các khoản này đã được trích lập đầy đủ.

Với kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm và các chương trình tái bảo hiểm hiện triển khai, Bảo hiểm PVI kỳ vọng hoàn thành mục tiêu lợi nhuận, vượt qua tác động của thiên tai và duy trì tỷ lệ kết hợp (combined ratio) dưới 90% cả năm.

Cũng theo lãnh đạo PVI, doanh nghiệp đánh giá rủi ro để lựa chọn mức giữ lại phù hợp với từng dịch vụ, nghiệp vụ cụ thể. Bảo hiểm PVI tuân thủ kỷ luật trong khai thác, cấp đơn và xác định mức giữ lại; đồng thời, xây dựng các chương trình tái bảo hiểm và hợp đồng bảo vệ phù hợp đối với công trình, tài sản của khách hàng, nhằm bảo đảm an toàn cho cả khách hàng và doanh nghiệp.

Trong công tác bồi thường, Bảo hiểm PVI xác định đây không chỉ là việc thực hiện cam kết theo hợp đồng, mà còn là thước đo chất lượng dịch vụ và uy tín thương hiệu. Doanh nghiệp liên tục cải tiến quy trình giám định, bồi thường theo hướng nhanh chóng, minh bạch, đồng thời nâng cấp các nền tảng số như: AI bồi thường bảo hiểm con người, My PVI..., nhằm rút ngắn thời gian xử lý nghiệp vụ.

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chú trọng tái bảo hiểm như một công cụ chia sẻ tổn thất và bảo vệ năng lực tài chính trước các sự cố lớn. PVI hiện duy trì quan hệ với các nhà tái bảo hiểm toàn cầu như Swiss Re, Munich Re, Hannover Re…, qua đó, tăng khả năng ứng phó và thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi phát sinh tổn thất quy mô lớn.

Tại DBV, lãnh đạo công ty cho biết, DBV tăng cường ứng dụng công nghệ để tinh gọn quy trình giám định, nâng cao tính minh bạch trong giải quyết bồi thường. Qua đó, doanh nghiệp tiếp tục rút ngắn thời gian xử lý, tập trung nguồn lực nhằm chi trả quyền lợi cho khách hàng kịp thời, đầy đủ và đúng quy định.

Tính đến hết tháng 7/2026, DBV đã chi trả hơn 1.303 tỷ đồng bồi thường cho 829.731 khách hàng, trong đó, bảo hiểm xe cơ giới chiếm 76% tổng số tiền chi trả.

“Sau giai đoạn chuẩn hóa và tái cấu trúc, DBV đã rút ngắn đáng kể thời gian xử lý bồi thường. Đặc biệt, trong các sự kiện tổn thất lớn như thiên tai, tai nạn liên hoàn, chúng tôi chủ động đơn giản hóa thủ tục và phối hợp trực tiếp với các bên liên quan để khách hàng được hỗ trợ sớm nhất” - lãnh đạo Tập đoàn Bảo hiểm DBV nhấn mạnh.

Cảnh giác trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi

Ở khối bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp cũng tăng cường số hóa quy trình giải quyết quyền lợi, qua đó rút ngắn thời gian xử lý cho khách hàng. Daiichi Life Việt Nam cho phép khách hàng thực hiện, theo dõi toàn bộ quy trình trực tuyến, đồng thời triển khai Daiichi Medic tại mạng lưới bảo lãnh viện phí để giảm thời gian chờ và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm Daiichi Life đạt hơn 3.100 tỷ đồng cho hơn 196.000 trường hợp trong nửa đầu năm 2026. Trong khi đó, Prudential Việt Nam ghi nhận 8.368 tỷ đồng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác, tăng 13% cùng kỳ.

Mặt khác, quy mô chi trả gia tăng cũng đặt ra yêu cầu cảnh giác trước nguy cơ gian lận, trục lợi bảo hiểm với thủ đoạn ngày càng phức tạp, thậm chí xuất hiện những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng.

Điển hình, tháng 8 vừa qua, Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng đã xét xử vụ người mẹ sát hại con ruột, dựng hiện trường giả để chiếm đoạt hơn 4,19 tỷ đồng tiền bảo hiểm.

So với bảo hiểm phi nhân thọ, rủi ro trục lợi trong bảo hiểm nhân thọ mang những đặc thù riêng do hợp đồng dài hạn, quyền lợi chi trả có thể lớn và quá trình thẩm định phụ thuộc nhiều vào thông tin sức khỏe, hồ sơ y tế của người được bảo hiểm. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác thẩm định, giám định và phòng chống gian lận bảo hiểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng đối với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật BHYT, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán và hình thức khám, chữa bệnh.
SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

(TBTCO) - SACOMBANK vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Kiều Anh giữ chức Quyền Tổng Giám đốc từ ngày 2/11/2026, thay ông Loic Faussier. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao đặt trong bối cảnh ngân hàng đang đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn tất Đề án tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 2/11, giá vàng trong nước tăng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Cụ thể, đối với phân khúc vàng miếng, giá vàng miếng tại DOJI, SJC và PNJ tăng 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 137 - 140 triệu đồng/lượng.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Hà Nội - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đà Nẵng - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Miền Tây - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Tây Nguyên - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
Trang sức 99.9 13,210 ▲30K 13,810 ▲30K
Trang sức 99.99 13,220 ▲30K 13,820 ▲30K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,376 ▲1239K 14,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,376 ▲1239K 14,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,337 ▲9K 1,377 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,337 ▲9K 1,378 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,317 ▲9K 1,367 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▲892K 135,347 ▲892K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 92,885 ▲83664K 102,685 ▲92484K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,315 ▲612K 93,115 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,745 ▲549K 83,545 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,054 ▲525K 79,854 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,736 ▼42248K 5,716 ▼51068K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cập nhật: 03/11/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17442 17715 18291
CAD 17922 18197 18816
CHF 30830 31207 31850
CNY 0 3818 3915
EUR 28183 28399 29479
GBP 33742 34131 35081
HKD 0 3153 3355
JPY 156 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14177 14766
SGD 19575 19856 20425
THB 678 741 795
USD (1,2) 25501 0 0
USD (5,10,20) 25539 0 0
USD (50,100) 25566 25580 25950
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,570 25,570 25,950
USD(1-2-5) 24,548 - -
USD(10-20) 24,548 - -
EUR 28,258 28,281 29,627
JPY 158.56 158.85 168.49
GBP 33,935 34,027 35,209
AUD 17,608 17,672 18,350
CAD 18,096 18,154 18,827
CHF 31,146 31,243 32,167
SGD 19,692 19,753 20,531
CNY - 3,786 3,932
HKD 3,216 3,226 3,362
KRW 17.66 18.42 20.04
THB 727.64 736.63 788.6
NZD 14,150 14,281 14,707
SEK - 2,584 2,677
DKK - 3,791 3,926
NOK - 2,738 2,835
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,905.28 - 6,666.31
TWD 708.96 - 859.03
SAR - 6,744.86 7,105.77
KWD - 81,365 86,591
AED - 6,759 7,285
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,560 25,590 25,970
EUR 28,249 28,391 29,619
GBP 33,915 34,085 35,120
HKD 3,212 3,231 3,349
CHF 30,918 31,073 32,022
JPY 158.43 160.03 168.01
AUD 17,663 17,788 18,384
SGD 19,698 19,877 20,473
THB 733 748 785
CAD 18,042 18,169 18,766
NZD 14,220 14,774
KRW 18.53 20.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25575 25575 25955
AUD 17613 17713 18644
CAD 18098 18198 19211
CHF 31098 31128 32701
CNY 3802 3827 3962.1
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28376 28406 30131
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 159.39 159.89 170.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14277 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19735 19865 20586
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13760000 13760000 14060000
SBJ 12000000 12000000 14060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,451 25,571 25,870
USD20 25,421 25,571 25,870
USD1 25,401 25,571 25,870
AUD 17,560 17,710 18,878
EUR 28,159 28,259 29,920
CAD 18,031 18,131 19,439
SGD 19,805 19,955 20,801
JPY 160.07 161.57 167.15
GBP 33,919 34,069 35,466
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,777 0
THB 0 737 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/11/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30