Vốn đầu tư công

Việc báo cáo thực hiện thanh toán vốn đầu tư công tới đây sẽ được đơn giản và chính xác hơn. Ảnh minh họa: H.T

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 15/2021/TT-BTC ngày 18/2/2021 quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện, thanh toán vốn đầu tư công. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 5/4/2021.

Nhiều quy định đã không còn phù hợp

Theo báo cáo từ Vụ Đầu tư, Bộ Tài chính, trong thời gian thực hiện Thông tư số 82/2017/TT- BTC của Bộ Tài chính quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện, thanh toán kế hoạch vốn đầu tư công (TT82), về cơ bản, các địa phương và Kho bạc Nhà nước đã thực hiện chế độ báo cáo về tình hình thực hiện vốn đầu tư công đúng quy định. Phản ánh đúng kết quả thanh toán vốn đầu tư công, tạo thuận lợi cho công tác điều hành vốn của cấp có thẩm quyền.

Tuy nhiên, Luật Đầu tư công năm 2019 ra đời, cùng với đó là Nghị định số 40/2020/NĐ- CP (NĐ 40) của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công, trong đó có nhiều nội dung mới liên quan đến chế độ báo cáo dẫn đến phải sửa đổi.

Đơn cử như về nguồn vốn đầu tư công quy định tại Luật Đầu tư năm 2019 bao gồm: Vốn NSNN, vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Quy định này khác với Luật Đầu tư công năm 2014 do không tách riêng vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư (do các nguồn vốn này thuộc nguồn vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN). Theo luật hiện hành, nguồn vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật là nguồn vốn đầu tư công.

Về việc giao kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và hàng năm. Theo Luật Đầu tư công 2019, vốn đầu tư NSNN chi cho đầu tư phát triển trong kế hoạch đầu tư công trung hạn được giao theo ngành, lĩnh vực. Tại Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn NSNN giai đoạn 2021-2025 và Quyết định số 26/2020/QĐ-TTg ngày 14/9/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14 quy định các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ kế hoạch đầu tư công hàng năm theo ngành và lĩnh vực. Như vậy, việc phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm giai đoạn 2021-2025 khác với trước đây (kế hoạch được giao theo chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia).

Về thời gian thực hiện và thanh toán vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm cũng khác với quy định trước đây. Cụ thể, thời gian thực hiện và thanh toán vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước đến hết ngày 31 tháng 1 năm đầu tiên của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau, vốn kế hoạch đầu tư công hàng năm đến ngày 31/1 năm sau; trong khi quy định trước đây là đến ngày 31/12 năm sau…

Ngoài ra, NĐ 40 quy định Bộ Tài chính là cơ quan quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm.

Chỉ tiêu báo cáo ngắn gọn, dễ thực hiện

Ông Dương Bá Đức, Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư - Bộ Tài chính cho biết, Thông tư 15/2021/TT-BTC đã quy định cụ thể về cơ quan gửi, nhận báo cáo; đề cương nội dung, thời gian báo cáo, mẫu biểu đối với báo cáo định kỳ. Theo đó, đã giảm 21 biểu so với TT82, đồng thời, các biểu mẫu báo cáo được quy định thống nhất cho tất cả đối tượng báo cáo thực hiện (bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Kho bạc Nhà nước và Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh).

Để đảm bảo yêu cầu về chuẩn hóa chế độ báo cáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thực hiện, chỉ tiêu trong các biểu mẫu cũng được quy định đơn giản, dễ thực hiện nhưng vẫn cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan nhận báo cáo, phục vụ công tác tổng hợp, phân tích số liệu, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành kế hoạch vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương sử dụng vốn đầu tư công cũng như các cơ quan quản lý nhà nước.

Hàng tháng, các đơn vị báo cáo lũy kế vốn thanh toán từ đầu năm đến hết tháng trước liền kề, ước thanh toán từ đầu năm đến hết tháng báo cáo. Thời hạn các đơn vị gửi báo cáo về Bộ Tài chính trước ngày 15 của tháng báo cáo để phục vụ kịp thời công tác điều hành kế hoạch vốn của Chính phủ.

Về nguồn vốn, quy định chế độ báo cáo theo cơ cấu nguồn vốn quy định tại Luật Đầu tư công năm 2019 gồm: Vốn NSNN chia theo chương trình, ngành, lĩnh vực, chương trình mục tiêu quốc gia (không tách riêng vốn TPCP, công trái quốc gia do các nguồn vốn này đều thuộc NSNN, riêng vốn ODA vẫn tách riêng để theo dõi do trong quyết định giao kế hoạch vốn có tách riêng vốn ODA); vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Đối với các địa phương, yêu cầu báo cáo đầy đủ nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương trong trường hợp Hội đồng nhân dân các cấp giao tăng so với kế hoạch do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao.

Các chỉ tiêu thông tin cần báo cáo gồm có vốn kế hoạch (kế hoạch năm trước kéo dài sang, kế hoạch TTCP giao trong năm, kế hoạch các đơn vị triển khai), lũy kế vốn thanh toán (thanh toán vốn kế hoạch kéo dài, thanh toán vốn kế hoạch năm) có báo cáo riêng thanh toán khối lượng hoàn thành và vốn tạm ứng theo chế độ chưa thu hồi.

Đối với báo cáo chuyên đề và báo cáo đột xuất, các đơn vị sẽ báo cáo theo các nội dung tại văn bản yêu cầu của Bộ Tài chính khi Bộ có nhu cầu tổng hợp, thu thập thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành kế hoạch vốn ngoài báo cáo định kỳ.

Thông tư quy định các đơn vị gửi báo cáo bằng văn bản điện tử qua Hệ thống văn bản và Điều hành, Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính hoặc các phương thức khác theo quy định của pháp luật. Báo cáo bằng văn bản giấy chỉ áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị chưa thực hiện tiếp nhận và gửi văn bản điện tử.

Theo ông Dương Bá Đức, với các quy định mới nêu trên sẽ là cơ sở giúp cho việc báo cáo tình hình thực hiện, thanh toán kế hoạch vốn đầu tư công của các bộ, ngành, địa phương được thuận lợi, chính xác. Đây cũng chính là cơ sở giúp cho công tác giải ngân nguồn vốn đầu tư công cả trung hạn và hàng năm về sau được nhanh chóng, kịp thời.

An Nhi