Thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng đến việc phục vụ người tham gia

Hà My
Việc thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội khu vực thành bảo hiểm xã hội tỉnh, bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã thành bảo hiểm xã hội cơ sở nhằm bảo đảm tính hệ thống, phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. Sự thay đổi này không ảnh hưởng đến việc phục vụ người tham gia.
aa

Đây là nội dung chỉ đạo của lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực tại Công văn số 1521/BHXH-TCCB về việc triển khai thực hiện Quyết định số 2286/QĐ-BTC ngày 30/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 391/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 1733/QĐ-BTC ngày 12/5/2025 và Quyết định số 1892/QĐ-BTC ngày 30/5/2025 ngày 30/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

Cả nước có 34 bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố

Theo mô hình tổ chức bộ máy mới, Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức, hoạt động ở 3 cấp: Trung ương, cấp tỉnh và cấp cơ sở. Để đảm bảo đúng quy định và thực tiễn triển khai nhiệm vụ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đổi tên gọi bảo hiểm xã hội khu vực thành bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng đến việc phục vụ người tham gia
Thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng đến việc phục vụ người tham gia.
Ảnh minh họa

Sau khi thực hiện thay đổi tên gọi của bảo hiểm xã hội khu vực, cả nước có 34 bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bảo hiểm xã hội cấp tỉnh). Trụ sở chính của bảo hiểm xã hội cấp tỉnh đặt tại Trung tâm chính trị - hành chính của đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Để bộ máy hoạt động phù hợp với tên gọi mới, tại Công văn số 1521/BHXH-TCCB, Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các khu vực cần triển khai ngay việc thực hiện thủ tục thay đổi con dấu và thông báo thay đổi tên gọi thành bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bảo hiểm xã hội cấp tỉnh).

Đồng thời, chủ động, đảm bảo tốt nhất các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ thông tin, thay đổi chứng thư số chủ tài khoản, kế toán trưởng theo pháp nhân mới phục vụ hoạt động của đơn vị trước và sau khi đổi tên nhằm bảo đảm vận hành thông suốt, ổn định, không gián đoạn việc phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã đổi tên thành Bảo hiểm xã hội cơ sở

Bảo hiểm xã hội cơ sở thuộc bảo hiểm xã hội cấp tỉnh thực hiện quản lý trên địa bàn một số xã, phường, đặc khu và không có tổ chức bộ máy bên trong.

Thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng đến việc phục vụ người tham gia
Bảo hiểm xã hội cơ sở không có tổ chức bộ máy bên trong. Ảnh minh họa

Trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền sắp xếp, tổ chức lại bảo hiểm xã hội cơ sở (từ nay đến trước ngày 30/9/2025), thực hiện thay đổi tên gọi bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là bảo hiểm xã hội cấp huyện), bảo hiểm xã hội liên huyện hiện thành bảo hiểm xã hội cơ sở để dễ nhận diện, bảo đảm tính hệ thống và thuận lợi cho việc cập nhật dữ liệu thông tin trong thực hiện nhiệm vụ.

Theo đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội cấp tỉnh chủ động triển khai thủ tục thay đổi con dấu và thông báo thay đổi tên gọi đối với bảo hiểm xã hội cơ sở sau khi Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành văn bản chính thức về việc thay đổi tên gọi theo quy định.

Đồng thời, đề xuất phương án sắp xếp bảo hiểm xã hội cơ sở tại bảo hiểm xã hội cấp tỉnh đảm bảo cơ cấu, phạm vi quản lý hài hòa theo đặc điểm vùng miền (nông thôn, đô thị, hải đảo, miễn núi, vùng cao, biên giới, vùng đồng bằng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) và các tiêu chí về diện tích tự nhiên; quy mô dân số; quy mô quản lý người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quy mô thu, chi; đảm bảo tiết kiệm, tránh lãng phí về cơ sở vật chất (trụ sở, trang thiết bị làm việc hiện có của bảo hiểm xã hội cấp huyện trước đây)./.

Tại Trung ương, để bộ máy tổ chức hoạt động từ Trung ương đến cơ sở vận hành thông suốt, liên tục, không làm gián đoạn công tác phục vụ người tham gia, thụ hưởng chính sách, Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu các đơn vị trực thuộc rà soát, tham mưu về việc ban hành Quy trình nghiệp vụ, phân cấp quản lý; phân quyền ứng dụng công nghệ thông tin gắn với chuyển đổi số đảm bảo việc tổ chức, hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ở 3 cấp (Trung ương, cấp tỉnh, cấp cơ sở) theo mô hình tổ chức bộ máy mới.
Hà My

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

(TBTCO) - VIS Rating cảnh báo rủi ro tài sản ngân hàng đang lan rộng, khi tỷ lệ nợ quá hạn tăng từ 3,3% lên 3,8% trong nửa đầu năm 2026. Trong bối cảnh lãi suất neo cao, khả năng trả nợ suy giảm, bộ đệm vốn ở mức khiêm tốn; trong khi đó, rủi ro huy động vốn và thanh khoản tiếp tục hiện hữu khi tín dụng trung, dài hạn tăng mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 150,200
Hà Nội - PNJ 147,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 147,200 150,200
Miền Tây - PNJ 147,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 147,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 15,030
Miếng SJC Nghệ An 14,730 15,030
Miếng SJC Thái Bình 14,730 15,030
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 15,150
NL 99.99 14,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,460 15,060
Trang sức 99.99 14,470 15,070
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,473 15,032
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,473 15,033
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,468 1,498
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,468 1,499
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,443 1,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,327 147,327
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 111,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,544 101,344
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,127 90,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,109 86,909
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,406 62,206
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cập nhật: 27/08/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19058
CAD 18289 18565 19182
CHF 31799 32180 32833
CNY 0 3841 3937
EUR 29805 30027 31110
GBP 34744 35137 36075
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15226 15817
SGD 20004 20286 20866
THB 712 775 828
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,858 29,882 31,298
JPY 159.61 159.9 169.57
GBP 34,931 35,026 36,236
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,471 18,530 19,214
CHF 32,086 32,186 33,136
SGD 20,122 20,185 20,974
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.38 18.13 19.72
THB 759.53 768.91 823.52
NZD 15,208 15,349 15,801
SEK - 2,704 2,799
DKK - 4,004 4,146
NOK - 2,744 2,844
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,057.25 - 6,841.77
TWD 740.64 - 897.27
SAR - 6,829.72 7,193.83
KWD - 82,738 88,035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18392 18492 19417
CAD 18474 18574 19585
CHF 32074 32104 33687
CNY 3823.6 3848.6 3983.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30004 30034 31760
GBP 35071 35121 36878
HKD 0 3330 0
JPY 160.67 161.17 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15342 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20174 20304 21027
THB 0 741.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14750000 14750000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Cập nhật: 27/08/2026 04:30
Ngân hàng