Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao Nợ xấu tăng nhanh, “bộ đệm” dự phòng chịu sức ép Kinh doanh gần như “đóng băng”, một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Nhiều ngân hàng kéo giảm nợ nhóm 5

Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn - tại 27 ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2025. Tốc độ tăng nợ nhóm 5 thấp hơn đáng kể so với mức 17,5% của tổng nợ xấu.

Ở góc độ tích cực, 11 ngân hàng trong nhóm khảo sát đã kéo giảm nợ nhóm 5 so với cuối năm 2025. Mức giảm mạnh nhất thuộc về VietBank, giảm 48,5%, còn 1.107,7 tỷ đồng; Saigonbank giảm 31,3%, còn 334 tỷ đồng. VietinBank, đại diện nhóm ngân hàng quy mô lớn, cũng ghi nhận nợ nhóm 5 giảm đáng kể 21,3% so với cuối năm 2025, xuống còn 15.610,5 tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Một số nhà băng có mức giảm dưới 10%, đơn cử, VIB và Eximbank lần lượt giảm 9,7% và 8,8%, đưa nợ có khả năng mất vốn xuống 5.742,1 tỷ đồng và 3.171,9 tỷ đồng.

PGBank và Vietcombank cùng giảm 4,2%, còn lần lượt 587,4 tỷ đồng và 8.324,1 tỷ đồng; ACB giảm 3,3% xuống 4.967,4 tỷ đồng.

Trong khi đó, mức cải thiện tại Techcombank và ABBank khá khiêm tốn, lần lượt giảm 0,9% và 0,1%, còn 5.886,2 tỷ đồng và 568,7 tỷ đồng.

Nợ có khả năng mất vốn “hãm tốc”, vẫn chiếm 56% tổng nợ xấu

Đáng chú ý, nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn đạt 174.685,2 tỷ đồng cuối quý II/2026, chiếm tới 56% tổng nợ xấu. Như vậy, hơn một nửa nợ xấu của các ngân hàng khảo sát vẫn tập trung ở nhóm có mức độ rủi ro cao nhất, tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng tài sản và nhu cầu trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, việc xử lý, thu hồi nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cũng đóng góp đáng kể vào xu hướng cải thiện chất lượng nợ.

Nổi bật nhất là VietBank, khi tổng nợ xấu nhóm 3-5 giảm 27%, xuống 2.240,5 tỷ đồng cuối quý II/2026. Tại Saigonbank, tổng nợ xấu giảm nhẹ 1,3%, xuống 640,8 tỷ đồng, nhờ nợ nhóm 5 giảm mạnh 31,3%, còn 334 tỷ đồng.

Xét về tỷ trọng, VPBank là ngân hàng hiếm hoi có tỷ trọng nợ nhóm 5 dưới 30% tổng nợ xấu, ở mức 25,7%.

Nợ nhóm 5 đặc biệt đáng lưu ý, bởi đây là cấp độ rủi ro cao nhất, với tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể 100%, qua đó, có thể tạo áp lực lớn lên chi phí dự phòng và lợi nhuận nếu chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm.

Chưa thể bớt lo khi nợ ngoại bảng lớn, rủi ro nợ xấu mới tích tụ

Việc nợ nhóm 5 giảm tại một số ngân hàng có thể đến từ thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm, sử dụng dự phòng để xử lý nợ hoặc cải thiện phân loại nợ. Tuy nhiên, mức giảm này chưa đồng nghĩa rủi ro đã được loại bỏ hoàn toàn, bởi một phần nợ có thể được đưa ra ngoại bảng sau khi sử dụng dự phòng.

Bởi bên cạnh nợ xấu nội bảng, quy mô nợ khó đòi đã xử lý và đang được theo dõi ngoại bảng tại các ngân hàng đến cuối quý II/2026 đã lên tới trên 1 triệu tỷ đồng. Trong nhóm khảo sát, PGBank, ACB... ghi nhận nợ khó đòi đã xử lý tăng mạnh so với cuối năm 2025.

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng

Cùng với đó, áp lực chất lượng tài sản vẫn cần theo dõi, đặc biệt khi nợ nhóm 2 đang gia tăng, tạo nguồn nợ tiềm ẩn có thể chuyển thành nợ xấu, trong khi các khoản nợ nhóm 3 - 4 cũng có nguy cơ tiếp tục dịch chuyển xuống nhóm 5 nếu khả năng trả nợ của khách hàng không cải thiện. Qua đó, làm tăng nhu cầu trích lập dự phòng và thu hẹp dư địa lợi nhuận của ngân hàng.

Chất lượng tài sản ngân hàng phát tín hiệu xấu

“Chất lượng tài sản đang phát đi tín hiệu khá xấu trong nửa đầu năm 2026. Đây là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng khá nhanh, với lợi suất các khoản cho vay đã tăng khoảng 1 - 2 điểm phần trăm trong giai đoạn 3 quý gần nhất, tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ” - ông Đỗ Thanh Tùng - Trung tâm Phân tích VDSC đánh giá.

Theo ghi nhận của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng lên khoảng 310.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 6% so với quý trước.

Tuy nhiên, nợ nhóm 2 tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ nhóm 2 từ 1,23% trong quý I/2026 lên 1,37% vào cuối quý II/2026.

Nợ nhóm 2 hình thành ròng lại tăng lên gần 81.000 tỷ đồng, mức cao nhất kể từ quý I/2023. Trong khi đó, nhiều ngân hàng khác ghi nhận nợ xấu hình thành ròng âm, tức các khoản nợ xấu được nâng cấp lên nhóm nợ tốt hơn, gồm VietBank, BacABank, NamABank, PGBank và Vietcombank.

VDSC cho rằng việc nợ xấu hình thành ròng duy trì ở mức cao trong quý II/2026 là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng khá nhanh.

Theo VDSC, điểm cần chú ý nhất là đà tăng của nợ nhóm 2, vốn là chỉ báo sớm cho nợ xấu trong 1 - 2 quý tới, trong bối cảnh bộ đệm dự phòng của phần lớn ngân hàng chưa được củng cố tương xứng.

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng

Trong khi đó, Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam (GTJA) cũng lưu ý nợ nhóm 2 đang tăng nhanh hơn nợ xấu và là tín hiệu cần theo dõi sớm. Số dư nợ nhóm 2 đạt tăng 28,3% so với đầu năm; tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng 20,8 điểm cơ bản, lên 1,37%. Có 15/28 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng trong quý II, có thể là tín hiệu sớm cho thấy rủi ro tín dụng đang mở rộng trước khi chuyển hóa đầy đủ thành nợ xấu nội bảng.

Dù vậy, theo Chứng khoán Guotai Junan, Luật số 96/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 15/10/2025 đã bổ sung quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng điều kiện; Nghị định số 304/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/12/2025, quy định chi tiết điều kiện tài sản bảo đảm được thu giữ.

Các quy định này củng cố khả năng thực thi quyền chủ nợ và rút ngắn một phần quy trình xử lý nợ có tài sản bảo đảm. Lợi ích lớn hơn đối với những ngân hàng có nợ xấu cũ và tài sản bảo đảm có hồ sơ pháp lý, thanh khoản tốt, song tốc độ thu hồi vẫn phụ thuộc vào từng tài sản và thủ tục thực tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 21:00
Ngân hàng