Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng “giải khát” thanh khoản 143.000 tỷ đồng Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Thanh khoản bớt căng, “cơn khát” vốn trung dài hạn còn lớn

Trên kênh thị trường mở (OMO) tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản theo hướng hút ròng.

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, nhà điều hành phát hành tổng cộng 27.506,39 tỷ đồng, trong khi khối lượng đáo hạn lên tới 35.345,73 tỷ đồng. Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839,34 tỷ đồng khỏi hệ thống, tiếp nối đà hút ròng 11.600 tỷ đồng tuần trước.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở lùi về 177.824,97 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản
Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn hạ nhiệt. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng qua kênh OMO, doanh số giao dịch liên ngân hàng tất cả các phiên đều vượt 900 nghìn tỷ đồng, cao hơn mức trung bình, song lãi suất không biến động mạnh. Đáng chú ý, lãi suất các kỳ hạn ngắn hạ nhiệt, trong khi các kỳ hạn dài hơn nhích lên, cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng thẳng.

Theo đó, chốt ngày 20/8, lãi suất qua đêm giảm xuống 3,01%/năm, thấp hơn 1,90 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 1,31 điểm phần trăm xuống 3,73%/năm.

Ngược lại, lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng 0,26 điểm phần trăm lên 5,64%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,47 điểm phần trăm lên 6,93%/năm và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,61 điểm phần trăm lên 7,56%/năm.

Như vậy, thanh khoản ngắn hạn có dấu hiệu bớt căng thẳng, song mặt bằng lãi suất ở các kỳ hạn dài hơn vẫn duy trì ở mức cao.

Sức ép cân đối vốn ngân hàng có thể gia tăng

Chứng khoán Yuanta nhận định, ba doanh nghiệp lớn vừa đề xuất vay khoảng 955 nghìn tỷ đồng cho 17 dự án. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước ban hành cơ chế tín dụng đặc biệt với 18 dự án trọng điểm với tổng nhu cầu vốn huy động hơn 752 nghìn tỷ đồng. Nếu được thông qua nhu cầu vốn cho 35 dự án trọng điểm lên tới 1,7 triệu tỷ đồng, điều này sẽ gây áp lực không nhỏ lên hệ thống ngân hàng.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), việc Ngân hàng Nhà nước có thể rút bớt hỗ trợ, trong khi lãi suất thị trường vẫn giảm, cho thấy thanh khoản nội tại của hệ thống đang thuận lợi hơn so với đầu tháng.

Dẫn thông tin từ cuộc họp giữa Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại vừa qua, Chứng khoán Yuanta chỉ rõ, dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều.

Cùng với đó, cơ cấu nguồn vốn huy động và cho vay vẫn bất cân đối, khi vốn trung dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động trong khi tín dụng trung dài hạn đã chiếm tới 48,5%.

Theo nhóm phân tích, căng thẳng thanh khoản đã qua giai đoạn cao điểm và lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục ổn định quanh vùng hiện tại trong ngắn hạn. Tuy nhiên, việc lãi suất 1 - 3 tháng vẫn cao hơn đáng kể so với qua đêm cho thấy nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt.

“Do đó, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay nhiều khả năng tiếp tục đi ngang ở vùng hiện nay trong quý III thay vì giảm nhanh, đặc biệt khi tín dụng tiếp tục được định hướng mở rộng trong những tháng cuối năm” - Chứng khoán Yuanta dự báo.

Tỷ giá USD “lệch pha”, tín hiệu hiếm gặp trở lại sau nhiều năm

Tỷ giá USD trong nước tuần qua từ 17/8 đến ngày 21/8 ghi nhận diễn biến phân hóa giữa tỷ giá trung tâm, ngân hàng và thị trường tự do.

Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở mức 25.600 đồng, tăng 39 đồng so với cuối tuần trước và leo đỉnh lịch sử. Trong tuần, tỷ giá trung tâm biến động đan xen, có hai phiên giảm, thay vì tăng liên tiếp nhiều phiên như nhiều tuần qua. Đáng chú ý, mức tăng tuần này đã thu hẹp đáng kể so với mức tăng của ba tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản

Trái chiều với tỷ giá trung tâm, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại giảm trong tuần. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết mua vào - bán ra ở mức 25.870 - 26.280 VND/USD, cùng giảm 50 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 25.900 - 26.280 VND/USD, giảm 30 đồng mỗi chiều.

Trong khi đó, USD trên thị trường tự do giảm 80 đồng so với cuối tuần trước, xuống 25.860 - 25.910 VND/USD, thấp hơn giá bán USD ngân hàng thương mại 370 đồng.

Ông Lê Anh Tuấn - Tổng Giám đốc Dragon Capital đánh giá, tỷ giá đang khá ổn định và công tác quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước đạt kết quả tích cực. Điều này cũng đồng nghĩa khả năng ngân hàng trung ương có thể gia tăng dự trữ ngoại hối.

Chia sẻ gần đây, ông Lê Anh Tuấn - Tổng Giám đốc Dragon Capital cho rằng, hiện tượng tỷ giá trên thị trường tự do thấp hơn khá nhiều so với tỷ giá liên ngân hàng không xuất hiện trong nhiều năm.

Trạng thái tương tự từng xuất hiện năm 2006, trước khi thị trường chứng khoán bước vào đợt tăng mạnh năm 2007 và một giai đoạn từng xảy ra trong năm 2012.

Còn theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, diễn biến trái chiều cho thấy cung - cầu ngoại tệ thực tế đang tương đối thuận lợi, trong khi việc tiếp tục nâng tỷ giá trung tâm giúp Ngân hàng Nhà nước duy trì “vùng đệm” và dư địa điều hành trước các biến động bên ngoài, thay vì phản ánh áp lực mất giá hiện hữu của VND.

Do đó, tỷ giá nhiều khả năng tiếp tục ổn định ở vùng hiện tại, khi áp lực USD quốc tế đã hạ nhiệt và cung - cầu ngoại tệ trong nước thuận lợi.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giảm 0,12% xuống 98,77 điểm.

Đồng bạc xanh chịu sức ép trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm ổn định quanh 4,7%, khi thị trường theo dõi nỗ lực của Mỹ nhằm kiềm chế mặt bằng lãi suất cao, thông qua chương trình mua lại trái phiếu dài hạn.

Tâm điểm tiếp theo của thị trường là số liệu Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) sơ bộ tháng 8 của Mỹ do S&P Global công bố, cung cấp tín hiệu sớm về sức khỏe hoạt động kinh doanh của nền kinh tế lớn nhất thế giới. Báo cáo gồm PMI sản xuất, PMI dịch vụ và PMI tổng hợp, phản ánh nhiều khía cạnh như sản lượng, xuất khẩu, việc làm, công suất và tồn kho.

Thị trường dự báo PMI sản xuất tháng 8 giảm nhẹ xuống 53,8 điểm từ 53,9 điểm trong tháng 7, trong khi PMI dịch vụ giảm từ 54,6 xuống 54 điểm. Dù được dự báo chậm lại, nhưng nếu không giảm mạnh hơn kỳ vọng, các chỉ số này vẫn cho thấy hoạt động sản xuất và dịch vụ của Mỹ duy trì tăng trưởng tương đối tích cực./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

(TBTCO) - ACB vừa công bố thành lập ACB Insurance (ACBI) với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ; trong đó, ACBA nắm 91%, ACBS sở hữu 9%. ACBI đặt mục tiêu thị phần trên 1,5% sau 5 năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 2.300 tỷ đồng vào năm 2030, qua đó, mở rộng hệ sinh thái và thúc đẩy nguồn thu ngoài lãi cho ngân hàng mẹ.
Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

(TBTCO) - Nhóm bảo hiểm niêm yết ghi nhận kết quả bán niên tích cực, với phí bảo hiểm gốc tăng hai con số, chiếm 72,5% toàn thị trường. Các doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh hợp tác, đa dạng mạng lưới phân phối để thúc đẩy doanh thu, song lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét.
Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

(TBTCO) - Từ chỗ chỉ huy động vốn, cho vay và thanh toán, các ngân hàng ngày nay đang mở rộng sang chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài sản… để khai thác sâu hơn giá trị khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Tại Việt Nam, VPBank là một trong những ngân hàng theo đuổi hướng đi này và đang từng bước gặt hái những kết quả rõ nét.
Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Từ ngày 28/9/2026, người dân có thể tạo lập tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID và tích hợp một tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động để tiếp nhận lương hưu, tiền hỗ trợ và các khoản chi trả an sinh xã hội.
Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Từ ngày 1/7/2026, khi văn bản chấp thuận nghiệm thu PCCC của cơ quan công an không còn là điều kiện bắt buộc, các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải tự xác minh mức độ an toàn cháy nổ của khách hàng trước khi cấp đơn — một phép thử năng lực khảo sát và thẩm định rủi ro thực sự của thị trường.
LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Năm 2025, LPBank đóng góp 3.298 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng hơn 3 lần so với năm 2021, đưa ngân hàng vào Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả này ghi dấu hành trình mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước gia tăng năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế.
Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

(TBTCO) - Công nghệ, dữ liệu đang đi sâu vào từng "mắt xích" trong hoạt động ngân hàng, từ mở tài khoản tức thì, thanh toán xuyên biên giới đến số hóa hành trình cấp tín dụng... Song hành với tốc độ chuyển đổi số là yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng, chống gian lận số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲600K 147,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲60K 14,760 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲60K 14,760 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲60K 14,760 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,460 ▲60K 14,810 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,460 ▲60K 14,810 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,460 ▲60K 14,810 ▲60K
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,120 ▲60K 14,720 ▲60K
Trang sức 99.99 14,130 ▲60K 14,730 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲1302K 14,762 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲1302K 14,763 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲6K 1,471 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲6K 1,472 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▲6K 1,456 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 ▲594K 144,158 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▲450K 109,361 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,368 ▲80472K 99,168 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,175 ▲366K 88,975 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,243 ▲350K 85,043 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,071 ▲250K 60,871 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲1302K 1,476 ▲1329K
Cập nhật: 22/08/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18205 18480 19065
CAD 18439 18716 19342
CHF 31962 32343 32994
CNY 0 3840 3950
EUR 29877 30100 31187
GBP 34816 35209 36154
HKD 0 3201 3404
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15296 15889
SGD 20029 20312 20895
THB 714 777 831
USD (1,2) 25858 0 0
USD (5,10,20) 25898 0 0
USD (50,100) 25926 25940 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,908 29,932 31,347
JPY 159.81 160.1 169.78
GBP 34,977 35,072 36,283
AUD 18,393 18,459 19,160
CAD 18,615 18,675 19,367
CHF 32,203 32,303 33,253
SGD 20,140 20,203 21,003
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,264 3,274 3,411
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 761.57 770.98 825.72
NZD 15,263 15,405 15,864
SEK - 2,711 2,808
DKK - 4,012 4,153
NOK - 2,763 2,861
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,041.76 - 6,824.12
TWD 740.54 - 897.13
SAR - 6,837.63 7,202.05
KWD - 82,860 88,165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,890 25,920 26,300
EUR 29,942 30,062 31,260
GBP 34,982 35,122 36,160
HKD 3,261 3,274 3,391
CHF 32,068 32,197 33,138
JPY 160.07 160.71 168.65
AUD 18,249 18,322 18,919
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 774 777 814
CAD 18,607 18,682 19,280
NZD 15,303 15,851
KRW 18.01 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26320
AUD 18388 18488 19416
CAD 18620 18720 19737
CHF 32205 32235 33813
CNY 3826 3851 3986.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30058 30088 31811
GBP 35117 35167 36925
HKD 0 3330 0
JPY 160.81 161.31 171.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15404 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20187 20317 21048
THB 0 743.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14400000 14400000 14800000
SBJ 12500000 12500000 14800000
Cập nhật: 22/08/2026 09:30
Ngân hàng