Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026 Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất huy động ít “gợn sóng”

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, mặt bằng huy động khoảng một tháng trở lại đây ít “gợn sóng”. Ngay cả sau cuộc làm việc của lãnh đạo Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 12/8, lãi suất huy động cũng chưa xuất hiện “làn sóng” điều chỉnh rõ nét, chỉ một vài ngân hàng hiếm hoi giảm lãi suất.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong đó, Hong Leong Bank giảm khá mạnh ở một số kỳ hạn, còn VCBNeo điều chỉnh nhẹ. Các ngân hàng và kỳ hạn còn lại trong khảo sát chưa ghi nhận giảm lãi suất.

Ở kỳ hạn 6 tháng, một trong những kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, Hong Leong Bank hiện niêm yết lãi suất 6,3%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 12/8. Nếu so với thời điểm toàn ngành được kêu gọi giảm lãi suất tại cuộc họp ngày 9/4, mức lãi suất này đã giảm tới 1,3 điểm phần trăm, mạnh nhất trong nhóm ngân hàng khảo sát.

Đáng chú ý, ngày 12/8 là thời điểm lãnh đạo Chính phủ chủ trì cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng, với yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất và tiếp tục giảm lãi suất cho vay.

Tại cuộc họp này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng cần hành động với tinh thần trách nhiệm cao, quyết liệt hơn nữa trong huy động nguồn lực cho tăng trưởng trên nền tảng ổn định vĩ mô, đặc biệt phải chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp thông qua các biện pháp cụ thể về ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, phục vụ tăng trưởng và kiểm soát chặt chẽ rủi ro.

Ở kỳ hạn 12 tháng, xu hướng giảm tiếp tục xuất hiện nhưng tập trung ở một số ngân hàng. Hong Leong Bank hiện niêm yết lãi suất 6,5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 12/8. Trong khi đó, VCBNeo niêm yết ở mức 6,9%/năm, dù vẫn cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với đầu tháng 7, nhưng đã giảm 0,1 điểm phần trăm kể từ ngày 12/8.

Ở kỳ hạn 24 tháng, mức điều chỉnh thận trọng hơn. VCBNeo hiện niêm yết 6,9%/năm, cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với đầu tháng 7, nhưng đã giảm 0,1 điểm phần trăm so với ngày 12/8.

Lãi suất niêm yết quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn “nóng” trên 9%/năm

Khảo sát nhóm ngân hàng có lãi suất huy động cao cho thấy, mặt bằng hấp dẫn nhất tập trung ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức cao nhất đã vượt 7%/năm ở một số kỳ hạn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Với 6 tháng, đây là kỳ hạn thường được nhiều người gửi tiền lựa chọn nhờ cân bằng giữa mức sinh lời và khả năng linh hoạt dòng tiền, không phải “khóa” vốn quá lâu như kỳ hạn 12 - 24 tháng. Tại kỳ hạn này, BacABank dẫn đầu với 7,05%/năm, top hai là PGBank 6,6%/năm; MBV (OceanBank) và VCBNeo (CBBank) cùng ở mức 6,5%/năm. Ngoài ra, BVBank và OCB lần lượt niêm yết 6,45%/năm và 6,4%/năm.

Với kỳ hạn 24 tháng, mức lãi suất cao nhất lại thấp hơn “đỉnh” lãi suất ở kỳ hạn 6 và 12 tháng tại nhiều ngân hàng. Theo đó, MBV dẫn đầu với 7%/năm, theo sau là Bac A Bank với 6,95%/năm và VCBNeo ở mức 6,9%/năm.

Trong khi đó, ở kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng, lãi suất giữa các ngân hàng gần như hội tụ quanh mức cao kịch trần 4,75%/năm. Nhìn chung, mức lãi suất hấp dẫn nhất đang tập trung ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với “đỉnh” trên 7%/năm, cho thấy các ngân hàng trong nhóm dẫn đầu ưu tiên thu hút dòng tiền ổn định hơn thay vì cạnh tranh mạnh ở kỳ hạn ngắn.

Theo ghi nhận của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lãi suất huy động niêm yết kỳ hạn 12 tháng bình quân toàn thị trường trong danh sách theo dõi không đổi ở mức 5,9%. Trong khi đó, lãi suất huy động theo chương trình ưu đãi vẫn neo cao và nhích tăng nhẹ theo tuần, dao động 8,5 - 9,3%/năm tại một số ngân hàng thương mại tư nhân.

Thanh khoản dịu lại, lãi suất vẫn chịu sức ép từ cấu trúc bảng cân đối

Cũng theo nhóm phân tích Chứng khoán VNDIRECT, dù lãi suất huy động niêm yết đã chững lại trong vài tháng gần đây, mặt bằng lãi suất thực vẫn neo cao để giữ chân các dòng tiền lớn.

Dù áp lực thanh khoản trên thị trường 2 đã có những dấu hiệu hạ nhiệt tạm thời trong ngắn hạn, tuy nhiên, nhu cầu vốn từ ngắn đến dài hạn tại các ngân hàng thương mại vẫn duy trì cao. Bởi ngân hàng luôn cần huy động thêm để bù đắp khoảng cách tín dụng - huy động, nhằm đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu giải ngân.

Cùng chung quan điểm, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, trong tháng 7, lượng thanh khoản được bơm qua OMO giảm dần, do đó, mức độ dư thừa thanh khoản vẫn chưa đủ lớn để kéo mặt bằng lãi suất xuống một cách bền vững.

“Điều kiện vĩ mô cho việc giảm lãi suất đã cải thiện đáng kể so với hai tháng trước, đặc biệt ở khía cạnh tỷ giá và thanh khoản ngắn hạn. Tuy nhiên, điều kiện đó vẫn chưa đủ để hình thành một chu kỳ giảm lãi suất bền vững” - chuyên gia VDSC đánh giá.

“Áp lực thanh khoản ngắn hạn đã giảm đáng kể, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất đã bước vào xu hướng giảm rõ ràng, đặc biệt là lãi suất huy động trên thị trường 1. Điều này cho thấy những yếu tố đang chi phối lãi suất không chỉ nằm ở thanh khoản ngắn hạn, mà có thể xuất phát từ các vấn đề mang tính cấu trúc trong bảng cân đối của hệ thống ngân hàng” - chuyên gia VDSC nêu góc nhìn.

Theo đó, áp lực có thể không còn nằm ở các tỷ lệ quản lý. Theo VDSC, việc mở rộng phạm vi tính tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn, lên mức 50%, vào tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) giúp nhiều ngân hàng giảm áp lực tuân thủ các chỉ tiêu an toàn. Tuy nhiên, thay đổi này chưa đồng nghĩa với việc nguồn vốn khả dụng của toàn hệ thống được cải thiện tương ứng.

Bên cạnh đó, chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn vẫn sâu sắc, đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mặt bằng lãi suất hiện nay. Trong đó, nhiều khoản tín dụng bất động sản vẫn đang trong quá trình cơ cấu hoặc gia hạn, chưa tạo ra dòng tiền và lợi nhuận tương xứng. Hệ quả là các ngân hàng phải huy động nguồn vốn trung và dài hạn lớn hơn để tài trợ cho các khoản mục này.

Diễn biến lãi suất trên thị trường cũng phản ánh điều này khi không chỉ các kỳ hạn 12 tháng mà cả nhóm kỳ hạn 3 - 6 tháng đều ghi nhận mức tăng đáng kể. Điều đó cho thấy các ngân hàng đang chủ động điều chỉnh cơ cấu huy động nhằm tối ưu hóa nguồn vốn thay vì chỉ cạnh tranh ở kỳ hạn dài như trước đây.

Ngoài ra, động thái can thiệp ngoại hối hỗ trợ đồng Yên hoặc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tiếp tục nâng lãi suất, trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản có xu hướng tăng ở tất cả kỳ hạn, còn Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn neo lãi suất ở mức cao cho thấy chi phí vốn quốc tế không thấp.

Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét thận trọng khi hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 10/10/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Cập nhật: 10/10/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30