Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026 Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất “hạ nhịp” nhưng dễ đảo chiều
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất huy động ít “gợn sóng”

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, mặt bằng huy động khoảng một tháng trở lại đây ít “gợn sóng”. Ngay cả sau cuộc làm việc của lãnh đạo Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 12/8, lãi suất huy động cũng chưa xuất hiện “làn sóng” điều chỉnh rõ nét, chỉ một vài ngân hàng hiếm hoi giảm lãi suất.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong đó, Hong Leong Bank giảm khá mạnh ở một số kỳ hạn, còn VCBNeo điều chỉnh nhẹ. Các ngân hàng và kỳ hạn còn lại trong khảo sát chưa ghi nhận giảm lãi suất.

Ở kỳ hạn 6 tháng, một trong những kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, Hong Leong Bank hiện niêm yết lãi suất 6,3%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 12/8. Nếu so với thời điểm toàn ngành được kêu gọi giảm lãi suất tại cuộc họp ngày 9/4, mức lãi suất này đã giảm tới 1,3 điểm phần trăm, mạnh nhất trong nhóm ngân hàng khảo sát.

Đáng chú ý, ngày 12/8 là thời điểm lãnh đạo Chính phủ chủ trì cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng, với yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất và tiếp tục giảm lãi suất cho vay.

Tại cuộc họp này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng cần hành động với tinh thần trách nhiệm cao, quyết liệt hơn nữa trong huy động nguồn lực cho tăng trưởng trên nền tảng ổn định vĩ mô, đặc biệt phải chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp thông qua các biện pháp cụ thể về ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, phục vụ tăng trưởng và kiểm soát chặt chẽ rủi ro.

Ở kỳ hạn 12 tháng, xu hướng giảm tiếp tục xuất hiện nhưng tập trung ở một số ngân hàng. Hong Leong Bank hiện niêm yết lãi suất 6,5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 12/8. Trong khi đó, VCBNeo niêm yết ở mức 6,9%/năm, dù vẫn cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với đầu tháng 7, nhưng đã giảm 0,1 điểm phần trăm kể từ ngày 12/8.

Ở kỳ hạn 24 tháng, mức điều chỉnh thận trọng hơn. VCBNeo hiện niêm yết 6,9%/năm, cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với đầu tháng 7, nhưng đã giảm 0,1 điểm phần trăm so với ngày 12/8.

Lãi suất niêm yết quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn “nóng” trên 9%/năm

Khảo sát nhóm ngân hàng có lãi suất huy động cao cho thấy, mặt bằng hấp dẫn nhất tập trung ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức cao nhất đã vượt 7%/năm ở một số kỳ hạn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Với 6 tháng, đây là kỳ hạn thường được nhiều người gửi tiền lựa chọn nhờ cân bằng giữa mức sinh lời và khả năng linh hoạt dòng tiền, không phải “khóa” vốn quá lâu như kỳ hạn 12 - 24 tháng. Tại kỳ hạn này, BacABank dẫn đầu với 7,05%/năm, top hai là PGBank 6,6%/năm; MBV (OceanBank) và VCBNeo (CBBank) cùng ở mức 6,5%/năm. Ngoài ra, BVBank và OCB lần lượt niêm yết 6,45%/năm và 6,4%/năm.

Với kỳ hạn 24 tháng, mức lãi suất cao nhất lại thấp hơn “đỉnh” lãi suất ở kỳ hạn 6 và 12 tháng tại nhiều ngân hàng. Theo đó, MBV dẫn đầu với 7%/năm, theo sau là Bac A Bank với 6,95%/năm và VCBNeo ở mức 6,9%/năm.

Trong khi đó, ở kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng, lãi suất giữa các ngân hàng gần như hội tụ quanh mức cao kịch trần 4,75%/năm. Nhìn chung, mức lãi suất hấp dẫn nhất đang tập trung ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với “đỉnh” trên 7%/năm, cho thấy các ngân hàng trong nhóm dẫn đầu ưu tiên thu hút dòng tiền ổn định hơn thay vì cạnh tranh mạnh ở kỳ hạn ngắn.

Theo ghi nhận của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lãi suất huy động niêm yết kỳ hạn 12 tháng bình quân toàn thị trường trong danh sách theo dõi không đổi ở mức 5,9%. Trong khi đó, lãi suất huy động theo chương trình ưu đãi vẫn neo cao và nhích tăng nhẹ theo tuần, dao động 8,5 - 9,3%/năm tại một số ngân hàng thương mại tư nhân.

Thanh khoản dịu lại, lãi suất vẫn chịu sức ép từ cấu trúc bảng cân đối

Cũng theo nhóm phân tích Chứng khoán VNDIRECT, dù lãi suất huy động niêm yết đã chững lại trong vài tháng gần đây, mặt bằng lãi suất thực vẫn neo cao để giữ chân các dòng tiền lớn.

Dù áp lực thanh khoản trên thị trường 2 đã có những dấu hiệu hạ nhiệt tạm thời trong ngắn hạn, tuy nhiên, nhu cầu vốn từ ngắn đến dài hạn tại các ngân hàng thương mại vẫn duy trì cao. Bởi ngân hàng luôn cần huy động thêm để bù đắp khoảng cách tín dụng - huy động, nhằm đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu giải ngân.

Cùng chung quan điểm, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, trong tháng 7, lượng thanh khoản được bơm qua OMO giảm dần, do đó, mức độ dư thừa thanh khoản vẫn chưa đủ lớn để kéo mặt bằng lãi suất xuống một cách bền vững.

“Điều kiện vĩ mô cho việc giảm lãi suất đã cải thiện đáng kể so với hai tháng trước, đặc biệt ở khía cạnh tỷ giá và thanh khoản ngắn hạn. Tuy nhiên, điều kiện đó vẫn chưa đủ để hình thành một chu kỳ giảm lãi suất bền vững” - chuyên gia VDSC đánh giá.

“Áp lực thanh khoản ngắn hạn đã giảm đáng kể, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất đã bước vào xu hướng giảm rõ ràng, đặc biệt là lãi suất huy động trên thị trường 1. Điều này cho thấy những yếu tố đang chi phối lãi suất không chỉ nằm ở thanh khoản ngắn hạn, mà có thể xuất phát từ các vấn đề mang tính cấu trúc trong bảng cân đối của hệ thống ngân hàng” - chuyên gia VDSC nêu góc nhìn.

Theo đó, áp lực có thể không còn nằm ở các tỷ lệ quản lý. Theo VDSC, việc mở rộng phạm vi tính tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn, lên mức 50%, vào tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) giúp nhiều ngân hàng giảm áp lực tuân thủ các chỉ tiêu an toàn. Tuy nhiên, thay đổi này chưa đồng nghĩa với việc nguồn vốn khả dụng của toàn hệ thống được cải thiện tương ứng.

Bên cạnh đó, chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn vẫn sâu sắc, đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mặt bằng lãi suất hiện nay. Trong đó, nhiều khoản tín dụng bất động sản vẫn đang trong quá trình cơ cấu hoặc gia hạn, chưa tạo ra dòng tiền và lợi nhuận tương xứng. Hệ quả là các ngân hàng phải huy động nguồn vốn trung và dài hạn lớn hơn để tài trợ cho các khoản mục này.

Diễn biến lãi suất trên thị trường cũng phản ánh điều này khi không chỉ các kỳ hạn 12 tháng mà cả nhóm kỳ hạn 3 - 6 tháng đều ghi nhận mức tăng đáng kể. Điều đó cho thấy các ngân hàng đang chủ động điều chỉnh cơ cấu huy động nhằm tối ưu hóa nguồn vốn thay vì chỉ cạnh tranh ở kỳ hạn dài như trước đây.

Ngoài ra, động thái can thiệp ngoại hối hỗ trợ đồng Yên hoặc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tiếp tục nâng lãi suất, trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản có xu hướng tăng ở tất cả kỳ hạn, còn Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn neo lãi suất ở mức cao cho thấy chi phí vốn quốc tế không thấp.

Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét thận trọng khi hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80