Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”

(TBTCO) - Giá vàng trong nước liên tục tăng kể từ 2023 đến nay, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới ở mức cao. Nhờ đó, các “ông lớn” kinh doanh vàng có kết quả kinh doanh đầy ấn tượng. Tuy nhiên, thị trường vàng trong nước vẫn đầy biến động khiến doanh nghiệp còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
aa

Bức tranh không sáng

Với diễn biến giá vàng trong nước liên tục leo thang, nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng trong nước đã có kết quả kinh doanh khởi sắc. Đơn cử như ông lớn Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ). Theo đó, trong 4 tháng đầu năm 2024, PNJ ghi nhận doanh thu thuần tăng hơn 33% là 16.049 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế đạt 915 tỷ đồng, tăng hơn 6% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, PNJ đặt mục tiêu doanh thu đạt 37.148 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 2.089 tỷ đồng, tăng lần lượt 12% và 6%. Sau 4 tháng, PNJ đã hoàn thành được hơn 43% chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận cả năm.

Bên cạnh đó, mới đây, SJC cũng công bố kết quả kinh doanh năm 2023 với nhiều dấu hiệu tích cực. Năm 2023, SJC ghi nhận doanh thu thuần tăng nhẹ 4% so với năm 2022, từ 27.153 tỷ đồng lên 28.408 tỷ đồng. Lợi trước thuế và lợi nhuận sau thuế năm 2023 của SJC tăng 27% và 24% so với năm 2022 lần lượt là 87,5 tỷ đồng và 61 tỷ đồng. Như vậy, lợi nhuận sau thuế của SJC năm 2023 vượt kế hoạch kinh doanh đề ra 7%, doanh thu giảm 5,8% so với kế hoạch.

Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”
SJC lãi mỏng, lợi nhuận PNJ áp đảo Doji. Ảnh: PNJ.

Tại Công ty TNHH Bảo tín Minh Châu, doanh thu thuần của công ty kết thúc năm 2023 là 1.401 tỷ đồng, tăng 31% so với năm ngoái. Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Bảo tín Minh Châu đều tăng nhẹ 9% so với năm ngoái lần lượt là hơn 5,5 tỷ đồng và hơn 4,4 tỷ đồng.

Bên cạnh những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tích cực thì còn có những doanh nghiệp có lợi nhuận đi lùi. Cụ thể, tại Công ty CP Đầu tư vàng bạc Phú Quý, doanh thu năm 2023 giảm 26% so với năm 2022, từ 3.057 tỷ đồng xuống còn 2.272 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Vàng bạc Phú Quý giảm sâu 74% và 75% lần lượt là 12,6 tỷ đồng và 9,2 tỷ đồng.

Tại bảng cân đối kế toán, các khoản phải thu ngắn hạn và các khoản phải thu dài hạn tăng đột biến so với số liệu đầu năm 2023 lần lượt là từ 2,5 tỷ đồng lên 137 tỷ đồng và từ 1,4 tỷ đồng lên 88,8 tỷ đồng. Về nợ phải trả, nợ ngắn hạn của Vàng bạc Phú Quý giảm nhẹ 3,8% còn gần 65 tỷ đồng. Trong đó, vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn tăng mạnh so với số đầu năm từ 507 triệu đồng, lên 28,5 tỷ đồng. Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn phát sinh 30 tỷ đồng vào cuối năm 2023.

Trước diễn biến giá vàng trên thị trường liên tục "nhảy múa", nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng được hưởng lợi. Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp có lợi nhuận không mấy khả quan khi phải đối mặt với những khó khăn đến từ khan hiếm nguồn vàng, chi phí sản xuất, nguyên vật liệu tăng cao.

Tính đến hết ngày 31/12/2023, tổng tài sản của Vàng bạc Phú Quý tăng nhẹ so với số đầu năm từ 635 tỷ đồng lên 642 tỷ đồng. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ năm 2023 là 94,4 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2022.

Tương tự, Công ty CP Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng có kết quả kinh doanh năm 2023 không mấy khả quan. Doanh thu của Doji giảm gần 2% so với năm 2022, từ 77.191 tỷ đồng xuống còn 75.778 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Doji năm 2023 giảm 20% và 17,5% lần lượt là 727 tỷ đồng và 718 tỷ đồng.

Tại bảng cân đối kế toán, dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi của Doji theo số liệu tại ngày 31/12/2023 tăng hơn 1 tỷ đồng so với số đầu năm là 20,4 tỷ đồng. Về nợ phải trả, tổng nợ phải trả của Doji tăng 2% so với số đầu năm 2023. Trong đó, nợ phải trả chiếm 88,8% tổng nợ phải trả. Bên cạnh đó, trong nợ phải trả ngắn hạn phát sinh thêm doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn là 21,3 tỷ đồng và phải trả ngắn hạn tăng mạnh hơn 3,5 lần so với số đầu năm từ 642 tỷ đồng, lên 2.344 tỷ đồng.

Tính đến hết ngày 31/12/2023, tổng tài sản của Doji là 14.000 tỷ đồng, tăng nhẹ 6% so với số đầu năm. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ của Doji là 125 tỷ đồng, giảm gần 20% so với năm 2022.

Liệu có “ăn nên làm ra” khi vàng “bão giá”

Tính từ đầu năm 2024 đến nay, giá vàng trong nước liên tục leo thang. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc nguồn cung vàng trong nước chưa đáp ứng đủ cầu cũng là nguyên nhân khiến giá vàng trong nước tiếp tục chênh lệch cao so với giá vàng quốc tế khi người dân và doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào vàng với tâm lý vàng là kênh trú ẩn an toàn khiến tình trạng khan hiếm vàng càng tăng thêm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá vàng tháng 4/2024 tăng 6,95% so với tháng trước, tăng 17,01% so với tháng 12/2023, tăng 28,62% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng đầu năm 2024 tăng 20,75%. Tính đến thời điểm ngày 15/5 vừa qua, giá vàng trong nước tiếp tục ghi nhận giá vàng tăng lên đến 90 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng SJC.

Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”
Nhu cầu vàng lớn hơn cung là nguyên nhân dẫn đến những diễn biến bất bình thường của thị trường vàng trong thời gian qua. Ảnh minh hoạ.

Bên cạnh đó, giá vàng thế giới trong thời gian qua có nhiều biến động và có xu hướng tăng cao cũng là nguyên dân dẫn đến việc giá vàng trong nước tăng.

Ngoài ra, trong những tháng của nửa đầu năm 2024 diễn ra tình trạng chênh lệch mua - bán vàng trong nước ở mức cao từ 2,5 - 3 triệu đồng/lượng.

Đối với người dân, việc giá vàng trong nước liên tục tăng, chênh lệch mua - bán vàng ở mức cao, người dân phải đối mặt với rủi ro bị lỗ mua đắt bán rẻ. Trước tình trạng này, các chuyên gia cũng đưa ra khuyến cáo nhà đầu tư hết sức thận trọng. Giá vàng đang ở đỉnh, nếu mua vào thời gian này rất dễ rủi ro, tỷ lệ sinh lời không cao như thời điểm trước đó. Đặc biệt với những người đầu tư vàng ngắn hạn trong thời điểm này sẽ vô cùng rủi ro.

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàng, dựa trên diễn biến thị trường và theo báo cáo kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp vàng lớn trong nước có thể thấy rằng, giữa bối cảnh thị trường vàng nhiều biến động cũng như giá vàng trong nước liên tục tăng, có những doanh nghiệp được hưởng lợi khi doanh thu tăng.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn khi giá vàng tăng cao, khan hiếm nguồn cung vàng khiến cho việc sản xuất và kinh doanh vàng gặp khó khăn. Điều này cũng dẫn đến tình trạng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bị ảnh hưởng.

Nhằm hướng đến minh bạch thị trường vàng, ngành Thuế kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu, trình cấp thẩm quyền quy định bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch kinh doanh vàng, đồng thời, quy định cơ chế kiểm soát các giao dịch này.

Theo đó, ngày 23/5 vừa qua, NHNN đã tổ chức công bố thanh tra việc việc chấp hành các quy định pháp luật về kinh doanh vàng, phòng chống rửa tiền, chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ, kê khai và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), Công ty CP Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji, Công ty CP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), và Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu.

Diệu Khiết

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17754 18027 18609
CAD 17900 18175 18793
CHF 30895 31272 31919
CNY 0 3829 3925
EUR 28967 29186 30265
GBP 33620 34008 34954
HKD 0 3184 3386
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14442 15028
SGD 19780 20062 20630
THB 694 757 810
USD (1,2) 25735 0 0
USD (5,10,20) 25774 0 0
USD (50,100) 25802 25816 26183
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,019 29,042 30,417
JPY 160.22 160.51 170.2
GBP 33,799 33,891 35,066
AUD 17,962 18,027 18,711
CAD 18,094 18,152 18,822
CHF 31,141 31,238 32,162
SGD 19,897 19,959 20,740
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.49 18.24 19.86
THB 741.79 750.95 804.3
NZD 14,449 14,583 15,018
SEK - 2,576 2,668
DKK - 3,892 4,029
NOK - 2,691 2,789
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,944.07 - 6,710.77
TWD 738.26 - 894.42
SAR - 6,807.72 7,170.98
KWD - 82,294 87,568
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17929 18029 18952
CAD 18077 18177 19191
CHF 31112 31142 32742
CNY 3811.5 3836.5 3971.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29133 29163 30888
GBP 33912 33962 35715
HKD 0 3315 0
JPY 161.13 161.63 172.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14539 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 722.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30