Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”

Diệu Khiết
(TBTCO) - Giá vàng trong nước liên tục tăng kể từ 2023 đến nay, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới ở mức cao. Nhờ đó, các “ông lớn” kinh doanh vàng có kết quả kinh doanh đầy ấn tượng. Tuy nhiên, thị trường vàng trong nước vẫn đầy biến động khiến doanh nghiệp còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
aa

Bức tranh không sáng

Với diễn biến giá vàng trong nước liên tục leo thang, nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng trong nước đã có kết quả kinh doanh khởi sắc. Đơn cử như ông lớn Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ). Theo đó, trong 4 tháng đầu năm 2024, PNJ ghi nhận doanh thu thuần tăng hơn 33% là 16.049 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế đạt 915 tỷ đồng, tăng hơn 6% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, PNJ đặt mục tiêu doanh thu đạt 37.148 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 2.089 tỷ đồng, tăng lần lượt 12% và 6%. Sau 4 tháng, PNJ đã hoàn thành được hơn 43% chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận cả năm.

Bên cạnh đó, mới đây, SJC cũng công bố kết quả kinh doanh năm 2023 với nhiều dấu hiệu tích cực. Năm 2023, SJC ghi nhận doanh thu thuần tăng nhẹ 4% so với năm 2022, từ 27.153 tỷ đồng lên 28.408 tỷ đồng. Lợi trước thuế và lợi nhuận sau thuế năm 2023 của SJC tăng 27% và 24% so với năm 2022 lần lượt là 87,5 tỷ đồng và 61 tỷ đồng. Như vậy, lợi nhuận sau thuế của SJC năm 2023 vượt kế hoạch kinh doanh đề ra 7%, doanh thu giảm 5,8% so với kế hoạch.

Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”
SJC lãi mỏng, lợi nhuận PNJ áp đảo Doji. Ảnh: PNJ.

Tại Công ty TNHH Bảo tín Minh Châu, doanh thu thuần của công ty kết thúc năm 2023 là 1.401 tỷ đồng, tăng 31% so với năm ngoái. Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Bảo tín Minh Châu đều tăng nhẹ 9% so với năm ngoái lần lượt là hơn 5,5 tỷ đồng và hơn 4,4 tỷ đồng.

Bên cạnh những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tích cực thì còn có những doanh nghiệp có lợi nhuận đi lùi. Cụ thể, tại Công ty CP Đầu tư vàng bạc Phú Quý, doanh thu năm 2023 giảm 26% so với năm 2022, từ 3.057 tỷ đồng xuống còn 2.272 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Vàng bạc Phú Quý giảm sâu 74% và 75% lần lượt là 12,6 tỷ đồng và 9,2 tỷ đồng.

Tại bảng cân đối kế toán, các khoản phải thu ngắn hạn và các khoản phải thu dài hạn tăng đột biến so với số liệu đầu năm 2023 lần lượt là từ 2,5 tỷ đồng lên 137 tỷ đồng và từ 1,4 tỷ đồng lên 88,8 tỷ đồng. Về nợ phải trả, nợ ngắn hạn của Vàng bạc Phú Quý giảm nhẹ 3,8% còn gần 65 tỷ đồng. Trong đó, vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn tăng mạnh so với số đầu năm từ 507 triệu đồng, lên 28,5 tỷ đồng. Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn phát sinh 30 tỷ đồng vào cuối năm 2023.

Trước diễn biến giá vàng trên thị trường liên tục "nhảy múa", nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng được hưởng lợi. Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp có lợi nhuận không mấy khả quan khi phải đối mặt với những khó khăn đến từ khan hiếm nguồn vàng, chi phí sản xuất, nguyên vật liệu tăng cao.

Tính đến hết ngày 31/12/2023, tổng tài sản của Vàng bạc Phú Quý tăng nhẹ so với số đầu năm từ 635 tỷ đồng lên 642 tỷ đồng. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ năm 2023 là 94,4 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2022.

Tương tự, Công ty CP Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng có kết quả kinh doanh năm 2023 không mấy khả quan. Doanh thu của Doji giảm gần 2% so với năm 2022, từ 77.191 tỷ đồng xuống còn 75.778 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của Doji năm 2023 giảm 20% và 17,5% lần lượt là 727 tỷ đồng và 718 tỷ đồng.

Tại bảng cân đối kế toán, dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi của Doji theo số liệu tại ngày 31/12/2023 tăng hơn 1 tỷ đồng so với số đầu năm là 20,4 tỷ đồng. Về nợ phải trả, tổng nợ phải trả của Doji tăng 2% so với số đầu năm 2023. Trong đó, nợ phải trả chiếm 88,8% tổng nợ phải trả. Bên cạnh đó, trong nợ phải trả ngắn hạn phát sinh thêm doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn là 21,3 tỷ đồng và phải trả ngắn hạn tăng mạnh hơn 3,5 lần so với số đầu năm từ 642 tỷ đồng, lên 2.344 tỷ đồng.

Tính đến hết ngày 31/12/2023, tổng tài sản của Doji là 14.000 tỷ đồng, tăng nhẹ 6% so với số đầu năm. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ của Doji là 125 tỷ đồng, giảm gần 20% so với năm 2022.

Liệu có “ăn nên làm ra” khi vàng “bão giá”

Tính từ đầu năm 2024 đến nay, giá vàng trong nước liên tục leo thang. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc nguồn cung vàng trong nước chưa đáp ứng đủ cầu cũng là nguyên nhân khiến giá vàng trong nước tiếp tục chênh lệch cao so với giá vàng quốc tế khi người dân và doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào vàng với tâm lý vàng là kênh trú ẩn an toàn khiến tình trạng khan hiếm vàng càng tăng thêm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá vàng tháng 4/2024 tăng 6,95% so với tháng trước, tăng 17,01% so với tháng 12/2023, tăng 28,62% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng đầu năm 2024 tăng 20,75%. Tính đến thời điểm ngày 15/5 vừa qua, giá vàng trong nước tiếp tục ghi nhận giá vàng tăng lên đến 90 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng SJC.

Các “nhà vàng” kinh doanh ra sao trong “cơn bão giá vàng”
Nhu cầu vàng lớn hơn cung là nguyên nhân dẫn đến những diễn biến bất bình thường của thị trường vàng trong thời gian qua. Ảnh minh hoạ.

Bên cạnh đó, giá vàng thế giới trong thời gian qua có nhiều biến động và có xu hướng tăng cao cũng là nguyên dân dẫn đến việc giá vàng trong nước tăng.

Ngoài ra, trong những tháng của nửa đầu năm 2024 diễn ra tình trạng chênh lệch mua - bán vàng trong nước ở mức cao từ 2,5 - 3 triệu đồng/lượng.

Đối với người dân, việc giá vàng trong nước liên tục tăng, chênh lệch mua - bán vàng ở mức cao, người dân phải đối mặt với rủi ro bị lỗ mua đắt bán rẻ. Trước tình trạng này, các chuyên gia cũng đưa ra khuyến cáo nhà đầu tư hết sức thận trọng. Giá vàng đang ở đỉnh, nếu mua vào thời gian này rất dễ rủi ro, tỷ lệ sinh lời không cao như thời điểm trước đó. Đặc biệt với những người đầu tư vàng ngắn hạn trong thời điểm này sẽ vô cùng rủi ro.

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàng, dựa trên diễn biến thị trường và theo báo cáo kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp vàng lớn trong nước có thể thấy rằng, giữa bối cảnh thị trường vàng nhiều biến động cũng như giá vàng trong nước liên tục tăng, có những doanh nghiệp được hưởng lợi khi doanh thu tăng.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn khi giá vàng tăng cao, khan hiếm nguồn cung vàng khiến cho việc sản xuất và kinh doanh vàng gặp khó khăn. Điều này cũng dẫn đến tình trạng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bị ảnh hưởng.

Nhằm hướng đến minh bạch thị trường vàng, ngành Thuế kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu, trình cấp thẩm quyền quy định bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch kinh doanh vàng, đồng thời, quy định cơ chế kiểm soát các giao dịch này.

Theo đó, ngày 23/5 vừa qua, NHNN đã tổ chức công bố thanh tra việc việc chấp hành các quy định pháp luật về kinh doanh vàng, phòng chống rửa tiền, chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ, kê khai và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), Công ty CP Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji, Công ty CP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), và Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu.

Diệu Khiết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 25/3 đảo chiều tăng mạnh tại hầu hết doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến trở lại ngưỡng 167 - 170 triệu đồng/lượng sau phiên giảm sâu trước đó.
Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/3, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 5 triệu đồng/lượng, có nơi giảm hơn 7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲110K 17,280 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲100K 16,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲100K 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 ▲100K 17,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 ▲100K 17,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 ▲100K 17,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Trang sức 99.99 16,480 ▲120K 17,180 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 ▲12K 17,282 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 ▲12K 17,283 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▲12K 1,726 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▲12K 1,711 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▲1188K 169,406 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▲900K 128,488 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼96033K 11,651 ▼104043K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▲732K 104,531 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▲699K 99,911 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▲501K 71,506 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cập nhật: 28/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,975 25,975 26,355
USD(1-2-5) 24,936 - -
USD(10-20) 24,936 - -
EUR 29,794 29,818 31,246
JPY 159.79 160.08 169.73
GBP 34,289 34,382 35,576
AUD 17,762 17,826 18,509
CAD 18,598 18,658 19,348
CHF 32,553 32,654 33,630
SGD 20,004 20,066 20,862
CNY - 3,776 3,917
HKD 3,294 3,304 3,443
KRW 16.09 16.78 18.26
THB 758.27 767.64 832.34
NZD 14,803 14,940 15,378
SEK - 2,730 2,832
DKK - 3,987 4,128
NOK - 2,647 2,757
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,135.29 - 6,920.37
TWD 742.23 - 899.06
SAR - 6,899.61 7,266.45
KWD - 83,587 88,927
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80