Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu - cơ hội cho giảm phát thải khí nhà kính

Diệu Hoa
(TBTCO) - Cơ hội đối với doanh nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt than sang biomass là giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu về môi trường góp phần thực hiện cam kết của chính phủ Việt Nam; cơ hội tham gia thị trường carbon nội địa trong tương lai.
aa
Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu - cơ hội cho giảm phát thải khí nhà kính
Quang cảnh cuộc tọa đàm.

Viên nén xuất khẩu được sử dụng làm nhiên liệu đầu vào

Ngày 5/4, tại Hà Nội, Chi hội Viên nén (Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam), Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức Tọa đàm "Vai trò của viên nén trong chuyển đổi nhiên liệu nồi hơi - Hướng tới nền sản xuất phát thải thấp tại Việt Nam".

Tọa đàm nhằm góp phần thúc đẩy việc chuyển đổi nguồn nhiêu liệu phát thải cao như than đá, dầu sang sử dụng viên nén gỗ có mức phát thải thấp tại các cơ sở sản xuất nhỏ sử dụng hệ nồi hơi.

Tại cuộc tọa đàm, ông Trần Văn Lượng - Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật nhiệt Việt Nam cho biết, trong sản xuất công nghiệp tại Việt Nam nồi hơi công nghiệp được sử dụng để cấp nhiệt, hơi, nước nóng cho các ngành: Công nghiệp nhẹ: dệt may, giầy da, nhựa, thuốc lá, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thủy sản, chế biến nông nghiệp...; công nghiệp nặng: hóa chất cơ bản, phân bón, tuyển khoáng, thuốc trừ sâu, sản xuất đường, sản xuất cao su... Các loại nhiên liệu sử dụng cho nồi hơi là điện, dầu, khí, than, biomass (vỏ trấu, dăm gỗ, mùn cưa, viên nén gỗ…).

Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu viên nén có xu hướng giảm nhẹ, với lượng xuất hơn 4,6 triệu tấn, giảm 4,3% so với năm 2022. Tổng giá trị xuất khẩu gần 680 triệu USD.

Việt Nam hiện chưa có một thống kê đầy đủ chính thức về số lượng nồi hơi công nghiệp. Theo thông tin từ nguồn các tổ chức kiểm định nồi hơi hàng năm và đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động, ước tính tại Việt Nam có khoảng 9.000 nồi hơi công nghiệp đang hoạt động.

Nhiều cơ sở này sử dụng nguồn than đá để vận hành hệ thống nồi hơi. Việc chuyển đổi nguồn than đầu vào của các cơ sở này sang các nguồn nhiên liệu sạch hơn có tiềm năng lớn trong việc giảm phát thải ở quy mô quốc gia.

Trong khi đó, ngành hàng viên nén Việt Nam nói chung và viên nén gỗ nói riêng phát triển rất mạnh trong những năm vừa qua. Các phế phụ phẩm của ngành gỗ như cành củi, ngọn cây, mùn cưa, dăm bào... được đưa vào sản xuất viên nén.

Khoảng 95% lượng viên nén sản xuất tại Việt Nam (khoảng 5 triệu tấn) được sử dụng để xuất khẩu, chủ yếu sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Viên nén xuất khẩu được sử dụng làm nhiên liệu đầu vào, thay thế một phần cho lượng than đá hiện đang được sử dụng để sản xuất điện tại các quốc gia này.

Khoảng 5% tổng lượng cung viên nén hiện đang được sử dụng nội địa, chủ yếu đưa vào hệ thống nồi hơi của các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Nhiều cơ sở đã và đang thực hiện việc chuyển đổi này nằm trong chuỗi cung toàn cầu, ví dụ các nhà cung ứng cho các hãng hàng lớn như Adidas, Nike, Samsung... Một số cơ sở nằm trong các khu công nghiệp nơi có các cam kết về phát thải thấp, chuyển đổi xanh...

Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu - cơ hội cho giảm phát thải khí nhà kính
Cơ hội đối với doanh nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt than sang biomass là giảm phát thải khí nhà kính

Xây dựng hình ảnh doanh nghiệp sản xuất xanh

Với những tiềm năng đó, theo ông Trần Văn Lượng, cơ hội đối với doanh nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt than sang biomass là giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu về môi trường góp phần thực hiện cam kết của chính phủ Việt Nam; cơ hội tham gia thị trường carbon nội địa trong tương lai. Đồng thời, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp sản xuất xanh, nâng khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, thách thức hiện nay đối với doanh nghiệp chuyển nồi hơi đốt sang biomass cũng không ít. Đó là doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư cho việc chuyển đổi; thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chế tạo nồi hơi đốt biomass; năng lực thiết kế, chế tạo của nhiều nhà chế tạo nồi hơi còn hạn chế. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư mới cao, chi phí cho phần cải tạo và chi phí do dừng sản xuất là các doanh nghiệp cần tính đến khi thực hiện chuyển đổi.

Một trong những thách thức nữa là thị trường carbon nội địa chưa hình thành nên chưa tạo thành động lực cho doanh nghiệp.

Ông Lượng cho rằng cần tăng cường nâng cao nhận thức cho người sử dụng nồi hơi của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ về kiến thức sử dụng năng lượng hiệu quả phát thải thấp, hướng tới tham gia thị trường carbon khi thị trường carbon vận hành.

Cùng với các quy chuẩn, tiêu chuẩn về nồi hơi đốt nhiên liệu sinh khối cần có cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt nhiên liệu hóa thạch sang đốt sinh khối.

Theo ông Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trends, Chính phủ Việt Nam cam kết mạnh mẽ với mục tiêu mức phát thải Net-Zero vào năm 2050. Để đạt mục tiêu này Chính phủ đã ban hành một số cơ chế, chính sách; trong đó có Nghị định 06/2022/NĐ-CP yêu cầu các cơ sở sản xuất có mức phát thải cao cũng như các bộ ngành phải giảm phát thải khí nhà kính.

Chính phủ đang thiết kế các cơ chế chính sách cần thiết để xây dựng thị trường tín chỉ carbon trong nước. Với cam kết Net-Zero của Chính phủ, dư địa cho việc sử dụng viên nén tại thị trường nội địa là rất lớn.

Tại COP 26 Thủ tướng Chính phủ cam kết Việt Nam sẽ hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050 và cam kết này lại được Thủ tướng chính phủ một lần nữa khảng định tại COP 28. Gần đây nhất là Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 01/03/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó đưa ra các mục tiêu: tiến hành chuyển đổi năng lượng góp phần quan trọng đáp ứng mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp 15 - 20% năm 2030 và 65 - 70% năm 2045; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7 - 10% vào năm 2030 và khoảng 14 - 20% vào năm 2045; giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15 - 35% vào năm 2030, lên mức 70 - 80% vào năm 2045.
Diệu Hoa

Đọc thêm

Hà Nội: Gỡ điểm nghẽn chi phí xử lý chất thải, nâng hiệu quả ngân sách môi trường

Hà Nội: Gỡ điểm nghẽn chi phí xử lý chất thải, nâng hiệu quả ngân sách môi trường

(TBTCO) - Chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại Hà Nội chịu áp lực từ giá nhiên liệu, yêu cầu kỹ thuật và những bất cập trong tổ chức dịch vụ sau phân cấp. Hoàn thiện định mức, đơn giá, phân loại rác tại nguồn và đẩy mạnh tái chế là những giải pháp quan trọng để kiểm soát chi phí, sử dụng hiệu quả ngân sách môi trường.
Bản đồ ranh giới rừng: Thêm công cụ gỡ khó cho doanh nghiệp xuất khẩu

Bản đồ ranh giới rừng: Thêm công cụ gỡ khó cho doanh nghiệp xuất khẩu

Muốn xuất khẩu gỗ, cà phê, cao su sang EU, doanh nghiệp phải chứng minh nguồn gốc vùng nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu chống mất rừng. Bản đồ ranh giới rừng năm 2020 phiên bản 1.0 vừa được công bố cung cấp thêm dữ liệu đối chiếu, giúp doanh nghiệp nhận diện những khu vực cần xác minh và chủ động hoàn thiện hồ sơ theo Quy định EUDR.
Chỉ thị của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ mới

Chỉ thị của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ mới

(TBTCO) - Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới của đất nước (Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 15/10/2026).
Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thống kê từ WB cho thấy, các công cụ định giá carbon tạo nguồn thu hơn 107 tỷ USD toàn cầu năm qua. Không chỉ thúc đẩy giảm phát thải, doanh thu từ tín chỉ carbon còn có thể bổ sung nguồn trả nợ cho ngân hàng, song để hiện thực hóa tiềm năng này, cần hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế định giá và thúc đẩy thương mại hóa tín chỉ carbon.
Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

(TBTCO) - Theo ADB, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040. Dù nhu cầu vốn lớn, còn nhiều rào cản, doanh nghiệp vẫn sẵn sàng đầu tư công nghệ xanh. Để khơi thông nguồn lực, cần đa dạng kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, trong đó có phát triển thị trường carbon.
Thị trường carbon cần hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để trở thành động lực mới của nền kinh tế

Thị trường carbon cần hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để trở thành động lực mới của nền kinh tế

(TBTCO) - Việc hình thành thị trường carbon là điểm khởi đầu, thị trường muốn phát triển bền vững cần thanh khoản, dữ liệu minh bạch, cơ chế xác minh đáng tin cậy và hệ sinh thái tài chính đủ mạnh. Đây là nền tảng giúp doanh nghiệp chuyển thành nguồn thu thực chất, tạo thêm nguồn lực chuyển đổi xanh và tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Phân quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho địa phương

Phân quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho địa phương

(TBTCO) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa hướng dẫn Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố về việc xác định thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với dự án khai thác khoáng sản, trên cơ sở triển khai các nghị quyết mới của Chính phủ.
Canada hỗ trợ 9,8 triệu CAD thúc đẩy các đô thị Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu

Canada hỗ trợ 9,8 triệu CAD thúc đẩy các đô thị Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu

(TBTCO) - Đại sứ quán Canada tại Hà Nội ngày 1/10 thông tin, Việt Nam và Canada vừa khởi động dự án Đô thị Việt Nam thích ứng/chống chịu với biến đổi khí hậu (VNCRM), trị giá 9,8 triệu CAD, để thúc đẩy hạ tầng thích ứng khí hậu, quản lý chất thải bền vững và phát triển địa phương theo hướng bao trùm hòa nhập.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều