Đảm bảo tín dụng được cấp đúng mức và an toàn

Hà My
(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của TBTCVN, TS. Lê Hồng Hạnh - Giảng viên Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, tăng trưởng tín dụng thấp là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại, cảnh báo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang có dấu hiệu chậm lại. Chính phủ và các ngân hàng cần phải đưa ra các chính sách hỗ trợ kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và tăng cường giám sát để đảm bảo tín dụng được cấp đúng mức và an toàn.
aa

PV: Theo số liệu thống kê gần nhất, tăng trưởng tín dụng từ đầu năm tới nay khoảng trên 2% so với cuối năm ngoái, bằng khoảng một nửa so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm trước (5,04%). Bà có bình luận gì về tốc độ tăng trưởng này?

Đảm bảo tín dụng được cấp đúng mức và an toàn
TS. Lê Hồng Hạnh

TS. Lê Hồng Hạnh: Đầu năm 2023, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm là 14 - 15%, cao hơn năm 2022 và sẽ có điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thị trường. Con số này được đánh giá là khá tham vọng trong vòng 5 năm trở lại đây, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện tại (năm 2022 khoảng 14%, năm 2021 là 12%, năm 2020 là 11%, năm 2018 - 2019 là 14%). Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi Chính phủ, tính đến ngày 24/2/2023 tín dụng chỉ tăng 0,77% so với cuối năm trước. Và tính tới ngày 20/4 mức tăng trưởng khoảng trên 2,57% so với năm 2022.

Các con số trên có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ đánh giá. Tuy nhiên, nhìn chung tốc độ tăng trưởng tín dụng là một trong những chỉ số quan trọng trong nền kinh tế, bởi tín dụng đóng vai trò then chốt hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Tăng trưởng tín dụng cao đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có thể đầu tư, sản xuất và mở rộng quy mô kinh doanh. Ngược lại, nếu tăng trưởng tín dụng giảm, điều đó có thể dẫn tới nguy cơ các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm nguồn vốn để hoạt động. Nếu điều này kéo dài có thể dẫn đến suy giảm đầu tư, sản xuất, tăng tỷ lệ thất nghiệp và dẫn tới suy thoái kinh tế.

Tuy nhiên, xét một cách khách quan thì lãi suất mới bắt đầu hạ nhiệt từ cuối tháng 3/2023, ngay cả khi hạ nhiệt thì vẫn ở mức trên 10%/năm. Còn giai đoạn trước đó, trong bối cảnh lãi suất thế giới tăng và neo ở mức cao, áp lực lên lạm phát cũng như tỷ giá rất lớn nên NHNN đã giữ các mức lãi suất điều hành cao hơn. Hơn nữa, quý I/2023 lại trùng với Tết Nguyên đán, nên hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng chưa thật sự náo nhiệt ở giai đoạn này. Các chính sách như giảm lãi suất, kích cầu tín dụng... cũng có độ trễ trong tác động đến nền kinh tế và việc hạ lãi suất không đồng nghĩa với việc ngay lập tức tăng trưởng tín dụng sẽ tăng. Chính vì vậy, chúng ta cần tiếp tục quan sát thị trường để có thể đưa ra những nhận định chính xác hơn.

Nguồn: Tổng cục Thống kê    		   						   Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Tổng cục Thống kê Đồ họa: Văn Chung

PV: Tăng trưởng tín dụng thấp liệu có phải là dấu hiệu cảnh báo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế khá chậm? Theo bà, tăng trưởng tín dụng thấp có đáng lo?

TS. Lê Hồng Hạnh: Như tôi đã đề cập ở trên, tăng trưởng tín dụng thấp là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại, cảnh báo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang có dấu hiệu chậm lại. Chúng ta có thể thấy, về chính sách thì các điều kiện cho vay vẫn được giữ nguyên, không thắt chặt, thậm chí là khuyến khích; từ đầu năm các ngân hàng cũng không bị hạn chế về room tín dụng, thanh khoản hệ thống thì dư thừa, hay nói các khác, nguồn cung tín dụng dường như đang rất sẵn sàng. Do vậy, có thể tạm kết luận, tăng trưởng tín dụng thấp đến từ sự tăng thấp hơn kỳ vọng trong nguồn cầu tín dụng, hay nói cách khác, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chậm lại.

Hạ lãi suất điều hành là biện pháp cần thiết

Theo TS. Lê Hồng Hạnh, động thái liên tiếp hạ lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước là một biện pháp cần thiết để giảm bớt áp lực tài chính đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn cùng lúc và cũng chưa hồi phục sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, chính sách này cũng có độ trễ trong tác động của nó đến nền kinh tế. Để tránh khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung, việc tiếp tục giảm lãi suất, duy trì cùng lúc các mục tiêu khác như bình ổn tỷ giá và lạm phát là cần thiết. Ví dụ như việc ban hành Thông tư 02/TT-NHNN gần đây về việc cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn là một dấu hiệu vô cùng tích cực để hỗ trợ doanh nghiệp cũng như các tổ chức tín dụng.

Một số nguyên nhân có thể do: 2 tháng đầu năm trùng vào dịp Tết Nguyên đán, 3 tháng đầu năm lãi suất vẫn duy trì ở mức cao và nhiều doanh nghiệp vẫn chưa hồi phục sau tác động bởi dịch Covid-19 và tình hình bất ổn trên thế giới.

Tuy nhiên, điều này cũng có thể cho thấy sự cân nhắc và thận trọng của ngân hàng trong việc cho vay và quản lý rủi ro. Kiểm soát tín dụng cẩn thận là cần thiết để đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính và tránh rủi ro tín dụng.

Bên cạnh đó, các chính sách vĩ mô khi đưa ra luôn có độ trễ. Chính vì vậy, tại thời điểm này việc tăng trưởng tín dụng thấp là một tín hiệu không như kỳ vọng. Tuy nhiên, để đánh giá là có thật sự đáng lo hay không thì chúng ta cần quan sát thêm các phản ứng của thị trường.

PV: Tín dụng chưa đạt 1/5 quãng đường năm 2023. Trong khi đó, sản xuất một số ngành công nghiệp chủ lực suy giảm đã khiến nguồn vốn ứ đọng. Theo bà, đâu là giải pháp kích cầu tín dụng để tiếp sức cho doanh nghiệp?

TS. Lê Hồng Hạnh: Theo tôi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong tương lai, Chính phủ và các ngân hàng cần phải đưa ra các chính sách hỗ trợ kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và tăng cường giám sát để đảm bảo tín dụng được cấp đúng mức và an toàn.

Một số nhóm giải pháp có thể chú ý như: Giải pháp đồng bộ để kích cầu, người dân mua nhiều hàng hóa thì doanh nghiệp cũng bán được nhiều hàng hơn, nhu cầu vay vốn cũng tăng theo; chú trọng vào hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp xuất nhập khẩu, bởi lẽ những doanh nghiệp này đang gặp khó khăn trong việc duy trì, mở rộng các đơn hàng mới, nên rất thận trọng trong việc vay vốn; thị trường bất động sản và thị trường vốn tiếp tục khó khăn, vì vậy các giải pháp liên quan tới các thị trường này cũng cần được sớm giải quyết.

PV: Xin cảm ơn bà!

Tác động của chính sách giảm lãi suất có thể mất vài tháng tới 1 năm

Nhận định về tác động của chính sách giảm lãi suất, TS. Lê Hồng Hạnh cho rằng, việc hạ lãi suất không đồng nghĩa với việc ngay lập tức các doanh nghiệp và hộ gia đình sẽ có thể tiết kiệm được nhiều chi phí vay và tiêu dùng thêm; cũng không có nghĩa ngay lập tức nhiều doanh nghiệp sẽ đi vay nhiều tiền hơn.

Theo TS. Hạnh, chính sách khi ban hành ra thường có độ trễ trong tác động của nó đến nền kinh tế. Thời gian để chính sách này có tác động đến nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự đáp ứng của các tổ chức tín dụng và động lực tăng trưởng của các doanh nghiệp. Thời gian trễ của chính sách giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước có thể dao động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình kinh tế hiện tại, mức độ vay và cho vay trong nền kinh tế và phản ứng của các tổ chức và cá nhân đối với sự thay đổi lãi suất. Thường thì tác động của chính sách giảm lãi suất có thể mất vài tháng, thậm chí tới 1 năm (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) để thể hiện rõ ràng trong nền kinh tế. Điều này là do thời gian cần thiết để sự thay đổi lãi suất được truyền tải qua các hệ thống tài chính, ảnh hưởng đến hoạt động cho vay và cuối cùng ảnh hưởng đến chi tiêu của các tổ chức và cá nhân.

Hà My

Đọc thêm

Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

(TBTCO) - Từ tháng 7/2026, ngành Thuế triển khai chiến dịch cao điểm làm sạch mã số thuế doanh nghiệp nhằm rà soát, chuẩn hóa dữ liệu quản lý thuế. Thông qua chiến dịch, đã có hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư vừa có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Thu - Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) để giúp cộng đồng doanh nghiệp và bạn đọc hiểu rõ hơn về mục đích, ý nghĩa cũng như các giải pháp hỗ trợ của cơ quan thuế trong chiến dịch này.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Gỡ ba điểm nghẽn để hút FDI công nghệ cao

Gỡ ba điểm nghẽn để hút FDI công nghệ cao

(TBTCO) - Lợi thế chi phí không còn đủ để Việt Nam hấp dẫn các dự án công nghệ cao, yếu tố quyết định ngày càng nằm ở năng lực của nền kinh tế. Điện năng, nhân lực công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là ba điểm nghẽn Việt Nam cần ưu tiên tháo gỡ. Đây là chia sẻ của TS. Đặng Thảo Quyên - Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Mở rộng không gian để doanh nghiệp tư nhân bứt phá

Mở rộng không gian để doanh nghiệp tư nhân bứt phá

(TBTCO) - Đến năm 2030, thước đo thành công của kinh tế tư nhân không chỉ là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp hay góp thêm bao nhiêu vào GDP, mà quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp Việt thực sự lớn lên, làm chủ được công nghệ, xây dựng được thương hiệu, dẫn dắt được chuỗi cung ứng và cạnh tranh trên trường quốc tế. Ông Bùi Anh Tuấn - Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) nhấn mạnh khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Minh bạch xuất xứ để khẳng định uy tín hàng Việt

Minh bạch xuất xứ để khẳng định uy tín hàng Việt

(TBTCO) - Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng - Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, minh bạch xuất xứ và nâng giá trị thực tạo ra tại Việt Nam là cách để doanh nghiệp giảm rủi ro trung chuyển, củng cố niềm tin của các thị trường xuất khẩu và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
Rộng mở cơ hội thu hút dòng vốn công nghệ cao từ Hoa Kỳ

Rộng mở cơ hội thu hút dòng vốn công nghệ cao từ Hoa Kỳ

(TBTCO) - Theo ông Adam Sitkoff - Giám đốc Điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), cam kết mạnh mẽ của Việt Nam về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra cơ hội thu hút thêm đầu tư công nghệ cao từ Hoa Kỳ. Để nắm bắt cơ hội này, Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế, phát triển nhân lực có kỹ năng và bảo đảm nguồn năng lượng ổn định.
Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều