FED giảm lãi suất một lần và những tác động đến tỷ giá VND

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) kết thúc cuộc họp tháng 6/2024 và các thông điệp sau cuộc họp cho thấy, cơ quan này sẽ chỉ hạ lãi suất 1 lần trong năm 2024, đây cũng là một kịch bản có tính trung lập. Chỉ số DXY vẫn có những biến động bấp bênh và là yếu tố đáng quan tâm đến tỷ giá của VND.
aa
FED giảm lãi suất một lần và những tác động đến tỷ giá VND
Cán cân của đồng USD sẽ vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến sự so sánh với VND. Ảnh tư liệu minh họa

Khả năng chỉ có 1 đợt hạ lãi suất

Trước khi FED công bố quyết định chính sách, Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố dữ liệu cho thấy, trong tháng 5/2024, CPI tổng thể của Mỹ tăng trưởng 3,3% so với cùng kỳ, còn CPI lõi tăng 3,4%. Cả hai đều thấp hơn dự báo của các chuyên gia.

Một điểm đáng chú ý sau cuộc họp là FED đã nâng dự báo lạm phát tổng thể lên mức 2,6% và lạm phát lõi lên mức 2,8% trong năm 2024. Trong khi đó, chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát yêu thích của FED – tăng trưởng 2,7% so với cùng kỳ, còn PCE lõi ở mức 2,8% trong tháng 4/2024. Các con số này đã rất gần với dự báo mới nhất của FED.

Dự báo mới của các quan chức FED cho thấy, họ vẫn tin rằng lạm phát đang hạ nhiệt và sẽ đạt mục tiêu 2%, từ đó cho phép họ có thể thực hiện các hành động nới lỏng chính sách trong năm nay. Trong tuyên bố sau cuộc họp, Ủy ban thị trường mở của FED (FOMC) cho biết: “Lạm phát đã hạ nhiệt trong năm qua, nhưng vẫn còn cao”. FED cũng lưu ý về những tiến bộ trên mặt trận chống lạm phát. Tuyên bố chính sách của cơ quan này cũng đề cập nội dung cho biết, trong những tháng gần đây, đã có thêm những tiến bộ khiêm tốn hướng tới mục tiêu lạm phát 2%.

Tuy nhiên, trong dự báo mới nhất (biểu đồ dot plot), các quan chức FED chỉ kỳ vọng sẽ giảm lãi suất một lần trong năm 2024. Vào đầu năm nay, các quan chức từng dự báo sẽ có tới ba lần cắt giảm.

Chiến lược gia của Tổ chức tài chính JPMorgan là ông Marko Kolanovic, cảnh báo kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất đã ít hơn sau báo cáo việc làm tháng 5 tốt hơn mong đợi. Ông này bình luận, triển vọng nới lỏng trong năm nay giảm dần và hiện dự kiến đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên của FED chỉ có thể diễn ra vào tháng 11.

Trong khi đó theo công cụ theo dõi FEDWatch của CME, khả năng hạ lãi suất trong 2 cuộc họp vào tháng 9 và tháng 11 đang gần ngang nhau với mức 48%. Điều này có nghĩa là thị trường vẫn còn khá khó khăn để dự báo được rằng, đợt cắt giảm lãi suất nếu diễn ra thì nó sẽ rơi vào tháng 9 hay tháng 11.

Các yếu tố chi phối tỷ giá VND

Với thị trường trong nước, kịch bản về khả năng FED chỉ thực hiện một đợt hạ lãi suất trong năm 2024 có thể coi là một kịch bản trung lập. Theo đó, FED mặc dù chưa thực hiện hạ lãi suất trong cuộc họp vừa diễn ra, nhưng điều đó cũng nằm trong dự báo và khi các chỉ số lạm phát của Mỹ có phần hạ nhiệt, niềm tin vẫn có ít nhất một đợt hạ lãi suất cũng được củng cố hơn. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng USD trước và sau thời điểm phiên họp của FED vẫn có những diễn biến bất ổn định.

Cụ thể, DXY đã diễn biến “căng” lên sau động thái Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hạ lãi suất thì có phần dịu đi ít nhiều sau phiên họp của FED, với diễn biến dao động quanh mức trên 104 điểm. Mặc dù vậy, những ngày sau đó, chỉ số này lại có biểu hiện nhích tăng trở lại và đến sáng ngày 14/6 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY lại nhích lên mốc trên 105 điểm.

Các chuyên gia tài chính cũng nhận định rằng, cán cân của đồng Đô la Mỹ trên thị trường quốc tế sẽ vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá của đồng tiền này trong sự so sánh với đồng nội tệ của Việt Nam. TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế gia trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, khi FED cắt giảm lãi suất thì đó là yếu tố kỳ vọng khiến cho các đồng tiền trên thế giới có thể tăng giá so với đồng USD, trong đó có Việt Nam. Trong khi đó, việc Mỹ còn trì hoãn việc giảm lãi suất là do họ vẫn còn tin tưởng vào các chỉ số kinh tế vẫn đang trong nhịp tăng trưởng rất tốt. Trong bối cảnh hiện nay, dự báo đồng nội tệ có thể chỉ mất giá khoảng 3,5 – 4% trong cả năm 2024.

Ngoài ra, một số chuyên gia cũng cho rằng, ngay cả kịch bản FED hạ lãi suất thì đó cũng chưa hẳn là kịch bản lạc quan hoàn toàn. Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế gia trưởng Ngân hàng ADB tại Việt Nam cho biết, FED sẽ cân nhắc giảm lãi suất khi họ thấy nền kinh tế có dấu hiệu suy yếu. Tuy nhiên, điều đó xảy ra cũng đồng nghĩa là tổng cầu của nền kinh tế Mỹ sụt giảm, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam.

Theo đó, ông Hùng cho biết, giải pháp cần làm đối với Việt Nam là ngoài việc quan sát động thái của Mỹ xem họ làm gì thì cũng quan tâm đến các yếu tố khơi thông thị trường nội địa, kích thích đầu tư và tiêu dùng nội địa. “Việc làm này sẽ phải mất nhiều thời gian nhưng đó là việc cần làm để dần đưa nền kinh tế có thể giảm bớt sự ảnh hưởng các yếu tố từ bên ngoài” - ông Hùng nói.

FED có thể thực hiện 4 đợt giảm lãi suất trong năm 2025

Thông điệp sau cuộc họp tháng 6 của FED cho thấy, các quan chức FED kỳ vọng sẽ giảm lãi suất quyết liệt hơn trong năm 2025, với 4 đợt giảm lãi suất tổng cộng 1 điểm phần trăm. Số lần giảm lãi suất trong năm 2025 theo đó nhiều hơn 1 đợt so với dự báo hồi tháng 3, khi đó, FED chỉ dự báo 3 đợt giảm trong năm 2025. Nếu mọi thứ diễn ra như kỳ vọng hiện nay, lãi suất của FED sẽ giảm về 4,1% vào cuối năm 2025.

Chí Tín

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 27/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 27/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30