Sửa Luật Bảo hiểm xã hội: Ngân sách chi cho bảo hiểm xã hội sẽ tăng

Hoàng Yến
(TBTCO) - Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội (BHXH), gia tăng quyền, lợi ích để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH)… Theo đó, ngân sách chi cho BHXH cũng sẽ tăng lên.
aa
Sửa Luật Bảo hiểm xã hội: Tăng quyền lợi, đảm bảo an sinh cho người lao động Đề xuất tăng mức trợ cấp cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội vượt quy định Vẫn chưa thống nhất phương án rút bảo hiểm xã hội một lần

Thêm nhiều chính sách tăng lợi ích cho người lao động

Chiều 2/11, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ về dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi). Trên cơ sở các chính sách được Quốc hội thông qua, dự thảo luật đã cụ thể hóa quy định 11 nội dung lớn.

Trong đó: bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội để hình thành hệ thống BHXH đa tầng; mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; bổ sung quyền lợi hưởng các chế độ ốm đau, thai sản đối với người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; bổ sung chế độ thai sản vào chính sách BHXH tự nguyện; giảm điều kiện về số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu hằng tháng từ 20 năm xuống 15 năm…

Sửa Luật Bảo hiểm xã hội: Ngân sách chi cho bảo hiểm xã hội sẽ tăng
Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc.

Dự thảo cũng sửa đổi quy định hưởng BHXH một lần; bổ sung quy định quản lý thu, đóng BHXH nhằm xử lý tình trạng trốn đóng BHXH; sửa đổi căn cứ đóng BHXH bắt buộc; sửa đổi các quy định gắn với tiền lương khu vực nhà nước phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW; sửa đổi, bổ sung về đa dạng hoá danh mục, cơ cấu đầu tư quỹ BHXH theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả…

Phát biểu tại tổ, đại biểu Phạm Phú Bình (Nghệ An) đề nghị cân nhắc việc mở rộng đối tượng đóng BHXH bắt buộc.

Theo đại biểu, trong 5 nhóm đối tượng có người hoạt động không chuyên trách ở cấp thôn, tổ dân phố. Đa số họ là người hưu trí, đã nghỉ hưu, đã hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH, chế độ được hưởng từ hoạt động không chuyên trách từ NSNN. Nếu dự thảo luật lại tiếp tục quy định đây là đối tượng đóng BHXH bắt buộc thì không phù hợp khi người đang hưởng hưu trí lại tiếp tục đóng BHXH, và cũng không phù hợp về mặt NSNN. Đại biểu đề nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ, TB&XH) giải trình thêm về nội dung này.

Góp ý về một số nội dung của dự thảo, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc cho rằng việc rút ngắn số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu sẽ khiến mức lương hưu được hưởng thấp hơn, vì nguyên tắc của BHXH là đóng hưởng. Do đó, nên chăng cơ quan soạn thảo nghiên cứu lại, có thể xem xét hướng tăng mức đóng.

Đối với một số nội dung mới như mở rộng đối tượng BHXH bắt buộc đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; quyền lợi hưởng các chế độ ốm đau, thai sản đối với người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn…, Bộ trưởng cho biết đây là những chính sách mà ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ hỗ trợ, nên sau khi ban hành Luật BHXH, ngân sách chi cho BHXH sẽ tăng lên.

Ngoài ra, Bộ trưởng lưu ý bổ sung thêm đối tượng được hỗ trợ là lực lượng theo Luật Lực lượng tham gia bảo vệ, an ninh trật tự ở cơ sở. Riêng với chính sách bổ sung chế độ thai sản vào chính sách BHXH tự nguyện, Bộ trưởng đề nghị không sử dụng NSNN để thực hiện mà dùng quỹ BHXH theo nguyên tắc đóng hưởng.

Làm rõ căn cứ mức rút bảo hiểm xã hội một lần

Liên quan đến chính sách về danh mục đầu tư của quỹ BHXH, Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cho rằng phải rất thận trọng. Hiện nay, quỹ BHXH chủ yếu đầu tư vào hai lĩnh vực. Thứ nhất là trái phiếu chính phủ, chiếm 80%, bởi đảm bảo chắc chắn và hỗ trợ được cho ngân sách, chính sách tài khóa, tuy nhiên lãi suất không cao. Có những thời điểm lãi suất 8 - 10% nhưng có giai đoạn xuống 4,7%, thậm chí vào thời điểm dịch, lãi suất còn 2,26%, Bộ trưởng cho biết. Phần còn lại 20% là gửi ở 4 ngân hàng thương mại nhà nước.

Sửa Luật Bảo hiểm xã hội: Ngân sách chi cho bảo hiểm xã hội sẽ tăng
Các đại biểu thảo luận tại tổ chiều 2/11.

Góp ý về vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau là việc rút BHXH 1 lần, Bộ trưởng cho hay theo phương án 2 đưa ra sẽ cho người lao động rút 50% và giữ lại 50%. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ sở nào để rút với tỷ lệ 50%, bởi điều này phải căn cứ khả năng đóng và rút BHXH.

Ví dụ, cơ cấu đóng quỹ BHXH là 26%. Người lao động đóng 8%, doanh nghiệp đóng 18%. Trong 18% này có 3% là ốm đau, thai sản, 0,5% là tai nạn, 14% là chế độ hưu trí, tử tuất. Theo Bộ trưởng, phần 14% mà doanh nghiệp đóng cho người lao động nên để lại giữ lại. Còn lại người lao động muốn rút một lần thì sẽ được rút. Như vậy sẽ tương ứng được rút ra khoảng gần 46%, còn 54% để lại.

Bộ trưởng cho rằng, với phần chủ sử dụng lao động đóng cho người lao động dù vẫn là của người lao động nhưng nên để lại, sau này có điều kiện người lao động sẽ đóng tiếp để được hưởng lương hưu. Thêm vào đó, cần quy định rõ để lại trong thời gian bao nhiêu năm, nếu không đóng thì cho họ rút hay có phương án khác, theo dự thảo hiện nay nội dung này vẫn còn bỏ ngỏ.

Ngoài ra, về quy định tại Điều 131, theo đó Bộ Tài chính là cơ quan thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, thống kê BHXH…, Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cho rằng quy định này không hợp lý. Bởi chức năng quản lý lao động, chế độ hưu trí, thanh tra về chế độ BHXH… phải là Bộ LĐ, TB&XH.

Mức trợ cấp hưu trí sẽ được điều chỉnh tùy tình hình kinh tế - xã hội

Về nội dung giảm tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, Bộ trưởng Bộ LĐ,TB&XH Đào Ngọc Dung cho biết theo lộ trình, trước mắt sẽ giảm từ 80 tuổi xuống 75 tuổi. Còn mức hưởng, Chính phủ đề xuất quy định linh hoạt, tùy vào tình hình kinh tế - xã hội từng thời kì.

Thực tế, Bộ LĐ, TB&XH đã phối hợp với Bộ Tài chính để trong tháng tới trình Chính phủ nâng mức hưởng trợ cấp xã hội. Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, mức chế độ bằng tiền không "áp cứng" trong luật mà sẽ thể hiện trong nghị định, để Chính phủ chủ động điều hành, đảm bảo cân đối, hài hòa.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

(TBTCO) - Eximbank dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 24/7/2026 tại Hà Nội với nội dung bầu bổ sung Thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ VIII (2025 - 2030).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80