Tác động hai chiều lên lãi suất năm 2022

Chí Tín
(TBTCO) - Trong định hướng chung, Ngân hàng Nhà nước vẫn đặt mục tiêu giảm lãi suất trong thời gian tới, đặt kỳ vọng cho doanh nghiệp được tiếp cận dòng vốn rẻ hơn. Tuy nhiên ở chiều khác, nhu cầu tín dụng tăng cao khi kinh tế phục hồi lại là một yếu tố tác động ngược có thể đẩy lãi suất lên theo quy luật cung cầu.
aa

Vẫn muốn giảm lãi suất thấp hơn

Theo các thông điệp phát đi thời gian qua từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quan điểm chủ đạo của ngành ngân hàng là tiếp tục định hướng giảm mặt bằng lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Tác động hai chiều lên lãi suất năm 2022

Ngành ngân hàng tiếp tục định hướng giảm mặt bằng lãi suất cho vay để hỗ trợ
doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với định hướng chung của Quốc hội và Chính phủ trong việc thực thi các mục tiêu chung trong thực thi các chính sách thúc đẩy kinh tế xã hội. Cụ thể, Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội cũng đề cập một trong những nội dung của chính sách tiền tệ là điều tiết thanh khoản phù hợp, tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải ngân cho các đối tượng thụ hưởng gói hỗ trợ lãi suất. Nghị quyết 43 cũng đưa ra yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động để phấn đấu giảm lãi suất cho vay khoảng 0,5% - 1% trong 2 năm 2022 và 2023, nhất là đối với lĩnh vực ưu tiên.

Ở cấp độ Chính phủ, Chỉ thị 01/CT-TTg về việc đôn đốc thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 cũng giao Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp, người dân; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.

Những bài toán khó từ thị trường

Chủ trương chung hoàn toàn phù hợp trong mục tiêu thúc đẩy kinh tế sau đoạn khó khăn khi Chỉ thị 01 cũng đã nêu rõ những thách thức mà nền kinh tế phải đối mặt, nhất là bối cảnh đại dịch Covid-19 dự báo thời gian tới vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường và biến động của tình hình quốc tế, khu vực. Đất nước ta sẽ tiếp tục phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức trong khi nguồn lực còn hạn chế, sức chống chịu của người dân, doanh nghiệp đã bị giảm sút do ảnh hưởng của đại dịch kéo dài hai năm qua. Tuy nhiên, một trong những bài toán khó mà các ngân hàng cũng đang phải đối diện là ngay cả khi các hoạt động kinh tế hồi phục, nhu cầu tín dụng tăng cao trở lại thì sức ép tăng lãi suất thậm chí có thể sẽ xuất hiện theo quy luật cung cầu của thị trường.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dư nợ tín dụng tín đến cuối tháng 1/2022 đã tăng trưởng được 2,74% so với cuối năm 2020. Theo đó, dư nợ tín dụng tính đến cuối tháng 1/2022 đã tăng trưởng khoảng 16,32% so cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong tháng 1/2022 đã nhanh hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm trước, bởi tháng 1/2021, tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 0,53%.

Đánh giá chung về thị trường tiền tệ năm 2022, ông Nguyễn Duy Thành - Trưởng phòng phân tích Công ty chứng khoán Pinetree cho biết, trong năm 2022, khi nền kinh tế phục hồi lại, nhu cầu vay vốn gia tăng. Tuy nhiên, nhiều thách thức đang đặt ra trong giai đoạn tới nguy cơ lạm phát cao vẫn hiển hiện, dòng tiền nóng chảy vào thị trường đầu cơ như bất động sản, một số nhóm cổ phiếu cũng cần kiểm soát chặt chẽ. Nợ xấu tại các ngân hàng cũng có nguy cơ gia tăng sau khi các chính sách tái cơ cấu, giãn nợ, miễn lãi suất sẽ tạm dừng từ quý III/2022 (theo các Thông tư 01/2020/TT-NHNN, Thông tư 03/2021/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN).

Với những vấn đề đang phải đối diện như trên, các chuyên gia cho rằng, tín dụng cũng cần phải được “kìm” ở mức hợp lý vì tăng trưởng quá cao cũng sẽ có những ảnh hưởng không tốt cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Trong một số trường hợp, một trong những giải pháp thị trường và các ngân hàng có thể thực hiện để “giảm van” tín dụng chính là công cụ tăng lãi suất. Đây có thể cũng sẽ là một trong những trở ngại trong kỳ vọng chung hướng tới việc giảm tiếp lãi suất trong thời gian tới.

Diễn biến thực tế thị trường cho thấy lãi suất cho vay chưa có dấu hiệu gì là sẽ tăng, nhưng lãi suất huy động trong thời điểm đầu năm 2022 đã “rục rịch” tăng cục bộ tại một số ngân hàng nhỏ. Trong các năm trước, lãi suất huy động tăng thường tạo ra áp lực buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay để duy trì biên lợi nhuận. Tuy nhiên thời gian gần đây, các ngân hàng đã có những giải pháp chèo lái bằng việc đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng trực tuyến và động thái giúp các ngân hàng tăng được huy động tiền gửi không kỳ hạn với chi phí huy động thấp.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, lãi suất không kỳ hạn rất thấp, trong khi năm 2021 đã có những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tiền gửi không kỳ hạn lên tới 30 – 40%, một số khác cũng đạt tới 15-20%. Điều này cho thấy ý thức người dân từng bước đã ít giữ tiền mặt hơn và để tiền trong tài khoản nhiều lên để phục vụ cho các nhu cầu thanh toán.

16 ngân hàng đạt hơn 21 nghìn tỷ đồng giảm lãi suất trong năm 2021

Trong năm 2021 (kế từ ngày 15/7/2021 đến ngày 31/12/2021), 16 ngân hàng thuộc Hiệp hội Ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất theo cam kết do các ngân hàng này họp hồi đầu tháng 7/2021. Tổng số tiền lãi suất giảm đạt 21.244 tỷ đồng, bằng 105,13% so với cam kết. Trong đó, Agribank là ngân hàng giảm nhiều nhất với tổng tiền lãi đã giảm cho khách hàng với 5.512 tỷ đồng cho trên 3,5 triệu khách hàng. Vietcombank đã giảm tổng số tiền lãi là 4.635 tỷ đồng cho 269.664 khách hàng. BIDV giảm được 4.128 tỷ đồng cho 452.746 khách hàng. VietinBank đã giảm tổng tiền lãi 2.259 tỷ đồng cho 967.697 khách hàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 00:30
Ngân hàng