Lãi suất năm 2022 chịu nhiều tác động đan xen, nhưng trong tầm kiểm soát

Chí Tín (thực hiện)
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Châu Đình Linh (Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh) cho biết, lãi suất năm 2022 chịu nhiều tác động đan xen trái chiều. Theo đó, khả năng tiếp tục giảm sâu hơn nữa là khó, tuy vậy, việc điều tiết để lãi suất không bị tăng cao trong năm tới cũng hoàn toàn khả thi.
aa
Lãi suất năm 2022 chịu nhiều tác động đan xen, nhưng trong tầm kiểm soát

Dự báo lãi suất năm 2022 tiếp tục được giữ ổn định để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

PV: Đánh giá của ông về điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2021 ra sao?

TS. Châu Đình Linh: Ngân hàng Nhà nước đều có định hướng chính sách tiền tệ cho từng năm, mục tiêu là để triển khai các công cụ cho phù hợp với tình hình thực tế của năm đó. Việc điều hành đều hướng đến hỗ trợ nền kinh tế, đảm bảo ổn định và an toàn hệ thống.

Lãi suất năm 2022 chịu nhiều tác động đan xen, nhưng trong tầm kiểm soát
TS. Châu Đình Linh

Riêng năm 2021, định hướng ban đầu cũng như thực thi trong năm qua cơ bản là một năm thành công của chính sách tiền tệ, thể hiện sự linh hoạt vừa kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19, chính sách tiền tệ đã tác động phục hồi nền kinh tế, qua đó kiểm soát lạm phát và lường trước được rủi ro và hạn chế tác động từ bên ngoài.

PV: Xu hướng giảm lãi suất cho vay trong năm 2021 đã phù hợp và toàn diện hay chưa, có dư địa nào để cho lãi suất tiếp tục giảm thấp hơn nữa trong năm 2022 không, thưa ông?

TS. Châu Đình Linh: Trong 2 năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện 3 đợt điều chỉnh giảm lãi suất và do đó đến nay dư địa cho việc tiếp tục giảm lãi suất thêm nữa là không nhiều.

Trong khi đó, các yếu tố kinh tế quốc tế cũng cho thấy khả năng giảm thêm lãi suất là khó. Một trong những yếu tố đáng chú ý là kế hoạch của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất trong năm 2022, điều này có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến bối cảnh tiền tệ của nước ta.

Ngoài ra, tình hình kinh tế và tài chính trong nước cũng đã thay đổi, đó là áp lực lạm phát lớn do chi phí nguyên vật liệu và dịch vụ logistic tăng tạo áp lực lạm phát chi phí đẩy. Trong năm qua, việc duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng cũng sẽ ít nhiều có thể có tác động gây ra lạm phát và độ trễ có thể sẽ là năm 2022.

Thời điểm quan trọng đáng chú ý trong năm 2022 có thể khoảng tháng 6/2022. Đây là mốc thời gian thực thi việc tái cơ cấu nợ, theo Thông tư 14/2021/TT-NHNN (cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19). Theo đó, thời điểm này sẽ phát sinh các nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Nợ xấu có thể sẽ gia tăng nếu khách hàng không trả được nợ và hệ quả của việc đó có thể có áp lực lớn cho ngành ngân hàng. Theo đó, việc duy trì chính sách hoãn, giãn nợ vẫn cần tiếp tục theo dõi diễn biến tình hình của dịch bệnh trong thời gian tới để có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thực tế.

Ngoài ra, chúng ta cũng nên cân nhắc điều chỉnh lại các mốc thời gian mà các ngân hàng phải điều chỉnh tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung

và dài hạn theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN (quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Bởi lẽ, các mốc thời gian đưa ra tại Thông tư 22 là trong bối cảnh nền kinh tế đang diễn ra bình thường. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế vừa trải qua giai đoạn không bình thường như trong năm 2021, do dịch bệnh thì sẽ cần có sự nới lỏng thời gian hơn để giảm bớt áp lực cho các ngân hàng.

PV: Một số quan điểm dự báo nền kinh tế sẽ phục hồi trong năm 2022. Theo ông, điều này có thể khiến nhu cầu vay vốn tăng lên và cán cân cung cầu có thể gây sức ép làm tăng lãi suất hay không?

TS. Châu Đình Linh: Kinh tế phục hồi là kỳ vọng chung cho năm 2022. Mọi hoạt động kinh doanh khơi thông, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng tăng…, nhưng việc kinh tế tăng tốc chưa chắc sẽ làm lãi suất tăng vì Ngân hàng Nhà nước vẫn còn có nhiều công cụ để điều tiết lãi suất. Đó là các công cụ như hạn mức tín dụng (room), điều phối thị trường mở, hoặc điều tiết tỷ giá để mua bán ngoại tệ…

Nhìn chung, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ quan tâm việc có thể tìm kênh nào để huy động vốn, ngân hàng chỉ là một kênh. Lãi suất ngân hàng nếu tăng lên thì các doanh nghiệp có thể sẽ tìm vốn từ các kênh khác, chẳng hạn như huy động vốn qua thị trường chứng khoán. Theo đó, thị trường chứng khoán cũng có thể sẽ là kênh tốt cho doanh nghiệp nếu họ có tín nhiệm tốt, có mục đích sử dụng vốn rõ ràng.

PV: Theo ông cần giải pháp gì để lãi suất giảm tập trung vào các ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, công nghệ…?

TS. Châu Đình Linh: Việc quan tâm hướng dòng vốn vào các lĩnh ưu tiên luôn là vấn đề được đặt ra trong điều tiết dòng vốn tín dụng. Ngân hàng Nhà nước thường gắn mục tiêu này với các chính sách tiền tệ - tín dụng mà họ ban hành trong mọi giai đoạn.

Một số giải pháp thông thường có thể thực thi là ấn định hạn mức tối đa cho từng lĩnh vực cho vay, hoặc sử dụng các công cụ dự trữ bắt buộc. Ngoài ra, việc cấp “room” tín dụng chung cho từng ngân hàng dựa trên tỷ lệ cho vay cao vào các lĩnh vực ưu tiên cũng sẽ khuyến khích các ngân hàng phải quan tâm các lĩnh vực này (nếu muốn có được “room” cao thì phải có tỷ lệ cho vay các lĩnh vực ưu tiên cao).

Một giải pháp nữa đáng được quan tâm là sử dụng quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như tận dụng hoạt động các tổ chức nước ngoài. Các tổ chức này cũng thường có các chương trình hợp tác với các ngân hàng để hỗ trợ về vốn dành cho các dự án nông nghiệp, dự án xanh, dự án công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao...

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhìn chung, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ quan tâm việc có thể tìm kênh nào để huy động vốn, ngân hàng chỉ là một kênh. Lãi suất ngân hàng nếu tăng lên thì các doanh nghiệp có thể sẽ tìm vốn từ các kênh khác, chẳng hạn như huy động vốn qua thị trường chứng khoán. Theo đó, thị trường chứng khoán cũng có thể sẽ là kênh tốt cho doanh nghiệp nếu họ có tín nhiệm tốt, có mục đích sử dụng vốn rõ ràng.
Chí Tín (thực hiện)

Đọc thêm

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 14,820
Miếng SJC Nghệ An 14,520 14,820
Miếng SJC Thái Bình 14,520 14,820
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 14,720
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 14,610
Trang sức 99.99 13,920 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 14,822
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 14,823
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 1,473
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 143,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 109,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 98,896
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 88,731
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 8,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 60,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cập nhật: 17/07/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80