Tăng trưởng tín dụng cả năm 2021 có thể lên 12%

Thái Duy
(TBTCO) - Tính tới cuối tháng 10, tín dụng vẫn tăng trưởng tốt bất chấp dịch Covid-19. Vào thời điểm cuối năm, nhu cầu tín dụng tăng, dư nợ tín dụng cũng tăng mạnh hơn, vì vậy, các chuyên gia dự đoán tăng trưởng tín dụng sẽ đạt trên 12% cho cả năm 2021.
aa

Tín dụng tăng tốt do đâu?

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/10/2021, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 10 triệu tỷ đồng, tăng 8,72% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2020 tăng 6,48%). Riêng khu vực Hà Nội tăng trưởng tín dụng đạt hơn 2,4 triệu tỷ đồng, tăng +1% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ 2020.

Lý giải về điều này, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho rằng, tín dụng phản ánh sự phục hồi của nền kinh tế sau khi mở cửa trở lại, với các chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), chỉ số quản trị mua hàng (PMI) và doanh thu bán lẻ đều tăng lên trong tháng 10.

Tăng trưởng tín dụng cả năm 2021 có thể lên 12%

Trong báo cáo mới phát hành gần đây, KBSV cho biết thêm, số liệu từ báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại, tính đến hết quý III/2021, tăng trưởng tín dụng nhóm các ngân hàng niêm yết đạt 7,7% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (trừ Agribank) tăng trưởng khá tốt (+7,8% so với cùng kỳ) và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng trưởng tích cực hơn (+8,8% so với cùng kỳ). Một số ngân hàng thương mại có mức tăng trưởng cho vay khách hàng tốt trong 9 tháng bao gồm TCB, TPB, VIB, LPB, MBB và MSB.

“Đáng chú ý, tăng trưởng mảng trái phiếu doanh nghiệp đóng góp nhiều vào mức tăng trưởng tín dụng 9 tháng ở nhiều ngân hàng như TCB, VPB, MBB, TPB. Mức tăng trưởng tín dụng 9 tháng tại các ngân hàng thương mại cổ phần đã tiệm cận với hạn mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp mới trong quý III” – chuyên gia của KBSV cho hay.

Bàn về tăng trưởng tín dụng, Công ty Chứng khoán MB (MBS) cũng cho rằng, tính đến ngày 29/10, tăng trưởng tín dụng bất ngờ ghi nhận mức tăng 8,72%, cao hơn mức 6,48% cùng kỳ năm ngoái. Điều này phần lớn nhờ các ngân hàng thương mại đã tung các gói, chương trình ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi sản xuất kinh doanh trong giai đoạn cuối năm.

Nâng dự báo tăng trưởng tín dụng lên 12%

Theo các chuyên gia của MBS, hiện tại, hầu hết các ngân hàng đều đã chạm đến hạn mức tín dụng của năm. “Khi mà tăng trưởng tín dụng được đánh giá là một yếu tố quan trọng giúp các ngân hàng duy trì mức lợi nhuận cao, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ nới hạn mức tín dụng cho các ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế hoạt động trở lại. Vào thời điểm cuối năm, nhu cầu tín dụng tăng, dư nợ tín dụng cũng tăng mạnh hơn, chúng tôi dự đoán tăng trưởng tín dụng sẽ đạt trên 12% cho cả năm 2021” – chuyên gia của MBS dự đoán.

Các chuyên gia của KBSV cũng nâng dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2021 từ mức 10% trước đó lên 12%. “Với việc tốc độ triển khai tiêm chủng vắc-xin tại các thành phố lớn diễn ra nhanh hơn dự kiến, dịch bệnh dần được kiểm soát, các quy định giãn cách xã hội dần được gỡ bỏ và ít có khả năng thắt chặt trở lại, nhu cầu vốn trong nền kinh tế sẽ sớm hồi phục tương ứng với sự phục hồi ở lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng” – chuyên gia KBSV lý giải.

Cùng với đó, báo cáo tài chính quý III công bố cho thấy, chất lượng tài sản của các ngân hàng thương mại, dù cần thêm một vài quý để đánh giá chính xác, song không chịu ảnh hưởng quá mạnh bởi đợt giãn cách xã hội quý III. Đây là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước sớm cấp thêm room tín dụng cho các ngân hàng có chất lượng tài sản và chỉ số an toàn tốt.

Các chuyên gia của KBSV cũng cho rằng, mặt bằng lãi suất thấp sẽ duy trì trong 2 tháng cuối năm. “Dù chính sách tiền tệ hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục được duy trì với lãi suất điều hành ở mức thấp, room tín dụng dự kiến sớm được nới trong thời gian tới, chúng tôi cho rằng còn rất ít dư địa để mặt bằng lãi suất giảm thêm trong bối cảnh áp lực lạm phát là hiện hữu. Thêm vào đó, rủi ro nợ xấu gia tăng trong một vài quý tới khi các khoản vay dần đáo hạn là yếu tố khiến các ngân hàng thương mại cần duy trì 1 mức NIM (biên lãi ròng) cao để có dư địa trích lập dự phòng, kéo theo đó lãi suất cho vay khó có thể giảm thêm” – KBSV phân tích./.

Thái Duy

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80