Thăm dò tỷ giá cuối năm và những tác động từng nhóm doanh nghiệp

Chí Tín
(TBTCO) - Tỷ giá trong những ngày gần đây tạm thời ổn định, nhưng đã ở mặt bằng cao hơn khá nhiều so với đầu năm. Với bối cảnh hiện nay, tác động của tỷ giá với từng nhóm doanh nghiệp có thể khác nhau và vì thế, các doanh nghiệp cũng cần có chiến lược riêng để dự phòng rủi ro tỷ giá, đặc biệt giai đoạn cuối năm 2022 và đầu 2023 có thể có những yếu tố đan xen tác động.
aa

Thị trường ngoại tệ đang trong hướng ổn định

Trong khoảng 2 tuần nay, tỷ giá đã bước vào giai đoạn tạm thời ổn định, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tỷ giá theo từng phiên với biến động nhẹ.

Trong những ngày gần đây, tỷ giá USD trung tâm do NHNN công bố thường chỉ điều chỉnh tăng giảm nhẹ vài đồng mỗi USD, thậm chí nhiều phiên được giữ nguyên. Còn tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng tương đối ổn định, đặc biệt có một số phiên gần đây các ngân hàng thương mại tăng tỷ giá mua vào, nhưng lại giảm tỷ giá bán ra. Việc các ngân hàng đang co hẹp khoảng cách tỷ giá niêm yết mua vào và bán ra cũng cho thấy tín hiệu thị trường ngoại tệ đang đi vào hướng ổn định, ít có rủi ro tỷ giá trong ngắn hạn.

Các doanh nghiệp cần có chiến lược riêng để dự phòng rủi ro tỷ giá.
Các doanh nghiệp cần có chiến lược riêng để dự phòng rủi ro tỷ giá.

Trước đó trong 2 tháng 9 và tháng 10/2022, NHNN đã liên tục 2 lần tăng lãi suất điều hành và 1 lần nới biên độ tỷ giá đã phần nào đưa tỷ giá về được trạng thái cân bằng, giải tỏa phần nào tâm lý mua găm giữ chờ giá lên. Cụ thể, lần một tăng lãi suất diễn ra vào cuối tháng 9 với lãi suất tái cấp vốn tăng từ 4,%/năm lên 5,%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 2,5%/năm lên 3,5%/năm. Tại thời điểm đó, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, tình hình tài chính tiền tệ các nước trên thế giới còn nhiều phức tạp đã và đang tác động tỷ giá. Nhưng NHNN vẫn tiếp tục điều hành để ổn định tỷ giá, đảm bảo cung ứng ngoại tệ hợp lý cho các doanh nghiệp và các ngân hàng để đảm bảo ổn định thị trường ngoại tệ. Tiếp đó trong tháng 10, NHNN đã tiếp tục đưa ra 2 quyết định khá mạnh tay, đó là việc nới biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5% vào ngày 17/10 và sau đó tiếp tục tăng lãi suất điều hành lần thứ hai vào cuối tháng 10.

“Thăm dò” diễn biến cuối năm

Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, việc NHNN nới biên độ tỷ giá đã phần nào tạo ra không gian rộng lớn hơn để các chủ thể, trong đó các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, nhà đầu tư nước ngoài và người dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên cơ sở cung cầu thị trường. Theo đó, biên độ tỷ giá sau khi được nới rộng ra thì tỷ giá thị trường đã tiếp tục biến động thêm một số ngày và dần dần đã tìm được điểm cân bằng trong giai đoạn từ đầu tháng 11.

Nhìn lại diễn biến của tỷ giá từ đầu năm, tỷ giá hiện tại đã có một giai đoạn tạm ổn định, nhưng mặt bằng tỷ giá đã cao hơn khá nhiều so với đầu năm. Cụ thể là, tỷ giá USD trung tâm ngày 4/1/2022 (ngày giao dịch đầu tiên năm 2022) là 23.134 đồng/USD, tỷ giá USD tham khảo tại Sở giao dịch NHNN là 22.650 đồng/USD mua vào và 23.150 đồng/USD bán ra. Tỷ giá tại Vietcombank ngày đầu năm là 22.610 đồng (mua tiền mặt)/22.640 đồng (mua chuyển khoản) - 22.920 đồng (bán ra).

Sau hơn 10 tháng trôi qua, đến thời điểm hiện tại, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%. Tuy nhiên, tỷ giá USD tham khảo tại Sở giao dịch NHNN và tỷ giá tại ngân hàng thương mại đã tăng khá mạnh khoảng 7,4%, còn tỷ giá tại Vietcombank đã tăng khoảng 9,2%. Sự chênh lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ.

Cán cân thương mại đang thặng dư trong 10 tháng 2022

Theo Tổng cục Thống kê, kể từ tháng 7/2022 trở lại đây, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư ngày càng tăng. Nếu như 6 tháng đầu năm, cả nước xuất siêu 742 triệu USD thì sau 7 tháng, mức xuất siêu là 1,1 tỷ USD, 8 tháng xuất siêu 3,9 tỷ USD, 9 tháng xuất siêu 7,1 tỷ USD vào sau 10 tháng thì xuất siêu đạt 9,4 tỷ USD. Xuất siêu tăng mạnh chủ yếu do xuất khẩu tăng cao hơn nhập khẩu. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 616,24 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 15,9%; nhập khẩu tăng 12,2%.

Theo phân tích của TS. Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, tỷ giá hối đoái tăng có lợi cho nhà xuất khẩu do xuất khẩu hàng hoá sang các nước khác rẻ hơn, ngược lại bất lợi cho nhập khẩu do hàng hoá từ bên ngoài sẽ trở nên đắt hơn. Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp nhập khẩu muốn hạn chế rủi ro tỷ giá trong những tháng tới đây nên tham gia thị trường mua ngoại tệ kỳ hạn, hoặc quyền chọn hoặc tham gia vào thị trường phái sinh để bảo vệ đồng tiền. Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu về lý thuyết là sẽ có lợi từ việc tỷ giá tăng, nhưng theo ông Nghĩa, yếu tố tỷ giá hối đoái tác động cung cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam không lớn lắm, do có sự trung hoà giá trị gia tăng thấp của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam (các doanh nghiệp xuất khẩu cũng vẫn có nhu cầu lớn nhập khẩu nguyên liệu).

Các chuyên gia dự báo rằng, diễn biến tỷ giá cuối năm 2022 và giai đoạn 2023 sẽ còn tiếp tục phụ thuộc vào lộ trình tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED). Theo đó, FED có thể sẽ có thêm những đợt tăng lãi suất tiếp theo nhưng kỳ vọng các đợt tăng sẽ nhẹ và thưa hơn so với trước, qua đó USD sẽ không còn tăng giá quá mạnh như trong năm 2022. Ngoài ra, các cán cân thương mại và đầu tư nước ngoài cũng sẽ là yếu tố có thể tiếp tục tác động đến cân bằng tỷ giá VND/USD trong thời gian tới.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 17/08/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 17/08/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80