Tỷ trọng chi cho an sinh xã hội tăng dần qua các năm

Thảo Miên
(TBTCO) - Báo cáo an sinh xã hội thế giới 2024-2026 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, an sinh xã hội là ưu tiên của Việt Nam trong thời gian qua. Thống kê cho thấy, tỷ trọng chi ngân sách cho an sinh xã hội của Việt Nam đã tăng dần trong các năm qua, từ 2,85% GDP năm 2005 lên 4,14% GDP năm 2010 và 4,67% GDP năm 2011 và khoảng 6,7% GDP năm 2021 và khoảng 7% GDP năm 2023...
aa
Tỷ trọng chi cho an sinh xã hội tăng dần qua các năm
Ngân sách dành nguồn lực lớn cho an sinh xã hội. Ảnh tư liệu

An sinh xã hội là ưu tiên của Việt Nam

Báo cáo an sinh xã hội thế giới 2024 - 2026 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố cuối tháng 10/2024 cho thấy, an sinh xã hội là ưu tiên của Việt Nam trong thời gian qua. Việt Nam có những cam kết rất mạnh mẽ về an sinh xã hội, thông qua việc ban hành Nghị quyết 42-NQ/TW (năm 2023) về Đổi mới chính sách xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi (2024) và đang sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) và Luật Việc làm…. Những thay đổi này đưa Việt Nam tiếp cận gần hơn đến việc đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững, phù hợp với các Tiêu chuẩn Lao động quốc tế (ILS) và các thông lệ quốc tế tốt nhất.

Thống kê cho thấy, tỷ trọng chi ngân sách cho an sinh xã hội của Việt Nam đã tăng dần trong các năm qua, từ 2,85% GDP năm 2005 lên 4,14% GDP năm 2010 và 4,67% GDP năm 2011 và khoảng 6,7% GDP năm 2021 và khoảng 7% GDP năm 2023...

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, dự toán chi thường xuyên 2024 là 1.259,6 nghìn tỷ đồng, trong đó, chi cải cách tiền lương và điều chỉnh lương hưu, một số chế độ trợ cấp, phụ cấp, chính sách an sinh xã hội 74 nghìn tỷ đồng. Số thực hiện chi 9 tháng năm 2024 ước đạt 856,5 nghìn tỷ đồng, bằng 68% dự toán, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước và thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn, đảm bảo kinh phí phòng, chống dịch, các nhiệm vụ chi an sinh xã hội, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ ngân sách nhà nước (NSNN).

Bên cạnh đó, đã thực hiện xuất cấp 16,78 nghìn tấn gạo để khắc phục hậu quả bão lũ, cứu trợ, cứu đói cho nhân dân; chủ động nguồn thực hiện tăng lương cơ sở (từ 1.800.000 đồng/tháng lên 2.340.000 đồng/tháng) cho các đối tượng hưởng lương từ NSNN và tăng lương hưu, trợ cấp cho các đối tượng thuộc NSNN đảm bảo từ 01/7/2024.

Lĩnh vực nào cũng có an sinh xã hội đan xen

Theo Dự toán NSNN 2025 vừa được Quốc hội thông qua, dự toán chi thường xuyên 2025 là 1.554,7 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 60,9% tổng chi NSNN. Trong đó bao gồm kinh phí tăng thêm đảm bảo chi trả tiền lương theo mức 2,34 triệu đồng/tháng, chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công, mức chuẩn trợ giúp xã hội và một số chính sách an sinh xã hội gắn với lương cơ sở theo mức điều chỉnh từ ngày 1/7/2024.

Bình luận về mức chi dự toán NSNN 2025, bà Ngô Thị Minh Hương - Giám đốc Trung tâm Phát triển Hội nhập đề nghị tăng tỷ trọng chi cho an sinh xã hội, đặc biệt là cho các nhóm yếu thế (người nghèo, người lao động trong các khu công nghiệp). Bà cũng đề xuất chi ngân sách cho các chương trình giảm nghèo bền vững cần được ưu tiên hơn, tăng từ mức 4,7% lên 6% tổng chi để đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội cho các đối tượng dễ bị tổn thương. Theo các chuyên gia, Việt Nam đang hướng tới mục tiêu an sinh xã hội toàn dân và để đạt được, nên quy định mức phân bổ ngân sách tối thiểu cho an sinh xã hội. Theo đó, ngân sách cho an sinh xã hội có thể chiếm từ 6-10% GDP và tăng chi từ ngân sách Nhà nước cho chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện để người lao động tự do có đủ các quyền lợi tương tự bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, khoản chi NSNN cho an sinh xã hội được phân cấp mạnh về địa phương nên số chi cho lĩnh vực này mới chỉ bao gồm phần ngân sách trung ương cân đối, theo báo cáo của Bộ Tài chính và tổng hợp từ một số bộ ngành. Số liệu này chưa bao gồm các nguồn địa phương tự cân đối cũng như phần ngân sách địa phương bố trí cho các chương trình riêng được cấp tỉnh ban hành.

Thông tin về vấn đề chi cho an sinh xã hội trong dự toán NSNN, ông Nguyễn Minh Tân - Phó Vụ trưởng Vụ NSNN (Bộ Tài chính) khẳng định, số chi liên quan tới bố trí cho an sinh xã hội thực tế là rất lớn chứ không phải chỉ là con số hơn 4%. Bởi chi cho an sinh xã hội đan xen giữa các lĩnh vực.

“Chi cho an sinh xã hội chạy dọc theo 13 lĩnh vực chi, lĩnh vực nào cũng có an sinh xã hội bên trong đan xen nên thực tế số chi an sinh xã hội là rất lớn” - ông Tân cho biết.

Ông cũng thông tin thêm về nguyên tắc bố trí dự toán chi NSNN năm 2025 để đảm bảo chi hiệu quả. Trong đó, nguyên tắc đầu tiên là bố trí chi đầu tư phát triển ở mức tích cực, đảm bảo tổng chi đầu tư phát triển lớn hơn bội chi NSNN và phù hợp với khả năng cân đối NSNN. Tiếp đó, bố trí chi trả lãi đầy đủ, đúng hạn, dự phòng, dự trữ quốc gia ở mức hợp lý để xử lý kịp thời các nhiệm vụ cấp bách phát sinh. Cùng với đó, bố trí đủ chi trả tiền lương khu vực công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và một số chính sách an sinh xã hội khác tính theo mức đã điều chỉnh từ ngày 1/7/2024. Đồng thời, bố trí chi thường xuyên triệt để tiết kiệm, ưu tiên các chế độ, chính sách đã ban hành, các nhiệm vụ thực sự quan trọng, cấp thiết.

Tập trung nguồn lực để chăm lo cho người dân

Trong các năm 2020 - 2022, Chính phủ đã tập trung nguồn lực để chăm lo cho người dân vượt qua đại dịch Covid-19. Theo tổng hợp từ các địa phương, NSNN huy động để hỗ trợ cho người dân trong giai đoạn này ước khoảng 53 nghìn tỷ đồng, chưa bao gồm ngân sách cho thực hiện chiến dịch tiêm chủng trên quy mô toàn quốc, các chi phí chăm sóc, điều trị y tế cho bệnh nhân nhiễm và các đối tượng thuộc diện cách ly theo quy định.

Thảo Miên

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80