Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển rừng tại Việt Nam

Bích Ngọc (thực hiện)
(TBTCO) - Công nghệ đã và đang xuất hiện trên mọi mặt của cuộc sống, trong đó có cả hoạt động bảo tồn và phát triển rừng. Chia sẻ với TBTCVN, TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm - Viện Công nghệ sinh học lâm nghiệp (Trường Đại học Lâm nghiệp), cho rằng việc ứng dụng công nghệ đã mang lại rất nhiều hiệu quả tích cực, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường rừng ngày một đa dạng, phong phú.
aa
Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm gian hàng Nấm Lim xanh do TS.Nguyễn Thị Hồng Gấm cùng các sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp nghiên cứu trong bối cảnh dịch Covid-19.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm gian hàng nấm Lim xanh do TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm cùng các sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp nghiên cứu trong bối cảnh dịch Covid-19.

PV: Phát triển kinh tế rừng mang lại nhiều lợi ích kinh tế, đảm bảo đời sống người dân ở các vùng trồng rừng. Là chuyên gia về lĩnh vực này, xin bà đánh giá cụ thể về lợi ích mà rừng đem lại?

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm: Tính đến hết năm 2023, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc là 45,58% (tăng 0,17% so với năm 2022). Tại Việt Nam, rừng được phân loại theo mục đích sử dụng (quản lý), gồm: Rừng đặc dụng chiếm 15,5% (các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh) được duy trì cho mục đích bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học. Rừng phòng hộ chiếm 33%, được duy trì cho các chức năng phòng hộ ở các lưu vực đầu nguồn hoặc ven biển. Rừng sản xuất chiếm 53,4 %, được sử dụng để cung cấp gỗ và cung cấp vật liệu khác trong sản xuất và chế biến lâm sản, sản xuất giấy, đem tới công ăn việc làm, sinh kế, của cải cho người dân.

Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển rừng tại Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm

Rừng cung cấp nguồn dược liệu quý, nguồn thực phẩm dinh dưỡng phục vụ đời sống con người như thảo quả, tam thất, nấm hương, các loại lá…; cung cấp nguyên liệu, lương thực chế biến thực phẩm.

Rừng tạo nên cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, mát mẻ, độc đáo… để quốc gia phát triển du lịch. Đặc biệt, rừng là nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào dân tộc miền núi. Tài nguyên rừng là cơ sở quan trọng trong việc phân bổ dân cư, điều tiết lao động trong xã hội.

PV: Mặc dù rất quan trọng với đời sống kinh tế - xã hội, song một thực tế hiện nay là tỷ lệ bao phủ rừng đang thấp dần. Công tác bảo tồn, phát triển rừng, đặc biệt là thực vật trở nên hết sức quan trọng. Bà đánh giá như thế nào về điều này?

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm: Theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2022-2025, cả nước trồng bình quân 204,5 triệu cây/năm, ổn định tỷ lệ rừng che phủ toàn quốc. Tuy nhiên, kết quả công tác bảo tồn, phát triển rừng còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, phổ biến hiệu quả chưa cao. Ngân sách nhà nước, đầu tư xã hội cho hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển rừng còn hạn chế. Chưa khai thác hiệu quả, bền vững giá trị của hệ sinh thái rừng.

Việc thực hiện các giải pháp trồng rừng, phục hồi rừng, nâng cao chất lượng rừng, hạn chế suy thoái rừng chưa đáp ứng yêu cầu, dẫn đến xói mòn, lũ lụt, sạt lở đất... ngày càng tăng khiến cho tỷ lệ bao phủ rừng đang thấp dần.

Việc ứng dụng công nghệ sinh học để giảm tỷ lệ diện tích rừng tự nhiên nghèo, tăng tỷ lệ diện tích rừng tự nhiên trung bình và giàu; nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học và năng lực phòng hộ; nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, tính bền vững của rừng trồng và cây trồng nông nghiệp… là vô cùng cần thiết.

PV: Theo bà, tại Việt Nam hiện nay, việc ứng dụng của công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển thực vật rừng đang được triển khai như thế nào?

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm: Ở Việt Nam đã có nhiều ứng dụng của công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển thực vật rừng được các cơ quan nghiên cứu áp dụng. Một số ứng dụng cụ thể như:

Ứng dụng công nghệ tế bào thực vật để nhân giống tạo ra nhiều cây nuôi cấy mô, không những giúp bảo tồn những cây quý hiếm mà còn phát triển nghề trồng rừng từ cây nuôi cấy mô - tế bào thực vật.

Ứng dụng công nghệ nuôi cấy cứu phôi non của những loài cây quý hiếm mà trong tự nhiên chúng hạn chế sinh sản.

Ứng dụng công nghệ nuôi cấy phôi hạt của những loài khó sinh sản trong tự nhiên bằng hạt để duy trì mức độ đa dạng loài của chúng (như nuôi cấy phôi hạt các loài lan - vì trong tự nhiên hạt lan chỉ có phôi mà không có nội nhũ nên rất khó nảy mầm trong tự nhiên).

Ứng dụng công nghệ chuyển gen để tạo ra những giống cây mới, gia tăng mức độ đa dạng loài trong tự nhiên, có khả năng kháng sâu bệnh, chống chịu được những điều kiện bất lợi của môi trường như khô hạn, mặn...

Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển rừng tại Việt Nam
Việt Nam đã có nhiều ứng dụng của công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển thực vật rừng được các cơ quan nghiên cứu áp dụng.

Ứng dụng chỉ thị phân tử để xác định đa dạng di truyền thực vật rừng như DNA barcode, ISSR,... Ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen và công nghệ điều khiển hoạt động của gen để tạo ra những giống cây kháng sâu bệnh, …

Ứng dụng công nghệ vi sinh để tạo ra các chế phẩm sinh học như phân bón sinh học, thuốc trừ sâu bệnh sinh học... Ví dụ chế phẩm EM, chế phẩm thuốc trừ sâu Bt… sẽ hạn chế việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh hóa học góp phần bảo tồn đa dạng sinh học cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chế phẩm sinh học được tạo ra để kích thích tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao từ thực vật rừng, như chế phẩm sinh học kích thích tạo trầm hương trên cây dó bầu.

Ngoài ra, chúng ta đang áp dụng công nghệ nuôi trồng nấm sử dụng thân cây gỗ và mùn cưa cây gỗ thu được qua quá trình tỉa thưa rừng trồng cũng như cành ngọn cây gỗ sau khai thác gỗ, giúp gia tăng hiệu quả kinh tế từ rừng. Ứng dụng công nghệ sinh học trong các công nghệ chế biến và bảo quản các sản phẩm từ thực vật rừng.

PV: Xin bà nói chia sẻ thêm về một số ứng dụng công nghệ sinh học nổi bật nhất trong bảo tồn và phát triển thực vật rừng ở Việt Nam?

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm: Cho đến nay ngành công nghệ sinh học phát triển ở Việt Nam mới được hơn 20 năm. Vì vậy so với thế giới, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển thực vật rừng ở Việt Nam còn khá khiêm tốn. Tuy nhiên, cũng có một số ứng dụng nổi bật, như:

"Quá trình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển, bảo tồn hệ thực vật rừng gặp rất nhiều khó khăn. Phải kể đến đầu tiên là thực vật rừng nhưng chủ yếu là cây sinh trưởng khá chậm và có vòng đời dài, vì thế cần nhiều kinh phí và nhiều thời gian để thực hiện các nghiên cứu, có thể kéo dài thời gian nghiên cứu tới 10 - 20 năm, trong khi đó kinh phí và thời gian của đề tài nghiên cứu các cấp thường chỉ cho 4 - 5 năm. Như vậy cần có ít nhất 2 - 3 đề tài nối tiếp nhau liên tục cho một vấn đề nghiên cứu ứng dụng thì mới cho kết quả tốt. Điều này đòi hỏi nhóm nghiên cứu cũng như cơ quan chủ quản cấp kinh phí cần có lộ trình nghiên cứu dài hạn.

Khó khăn nữa là nhiều loài thực vật rừng phân bố ở những nơi có địa hình đi lại rất vất vả, leo rừng lội suối đến vài ngày, nên cũng hạn chế cho việc nghiên cứu ứng dụng."

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm

Ứng dụng công nghệ tế bào thực vật để nhân giống tạo ra nhiều cây nuôi cấy mô; ứng dụng công nghệ nuôi cấy phôi hạt của những loài khó sinh sản trong tự nhiên bằng hạt; ứng dụng chỉ thị phân tử để xác định đa dạng di truyền thực vật rừng như DNA barcode, ISSR…; ứng dụng công nghệ chuyển gen để tạo ra những giống cây mới; ứng dụng công nghệ vi sinh để tạo ra các chế phẩm sinh học như phân bón sinh học, thuốc trừ sâu bệnh sinh học; công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu.

PV: Theo bà, giải pháp nào để đạt được hiệu quả cao trong công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học như kỳ vọng?

TS. Nguyễn Thị Hồng Gấm: Tôi hiện đang là giảng viên chuyên môn về công nghệ sinh học của trường Đại học Lâm Nghiệp và cũng là một trong những cán bộ đã và đang triển khai thực hiện đề tài cấp Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) “Nghiên cứu phục tráng và phát triển nguồn gen nấm Lim (Ganoderma lucidum (Leyss. Ex Fr.) Karst.) tạo sản phẩm OCOP” sử dụng thân cây gỗ và mùn cưa cây gỗ thu được qua quá trình tỉa thưa rừng trồng cũng như cành ngọn cây gỗ sau khai thác gỗ, giúp làm gia tăng hiệu quả kinh tế từ rừng.

Nhà nước, Bộ NN&PTNT, các đơn vị nghiên cứu về lĩnh vực này cần đầu tư nghiên cứu để có bộ giống cây rừng năng suất cao, đa dạng chủng loài, có khả năng kháng sâu bệnh tốt, trong đó ưu tiên nghiên cứu tạo giống gỗ lớn, cây bản địa, lâm sản ngoài gỗ.

Chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông tin, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật giống gốc cho các đơn vị sản xuất giống, đặc biệt kỹ thuật nhân giống bằng công nghệ mới, có các mô hình giống tốt phối hợp với kỹ thuật lâm sinh tiên tiến phù hợp để nhân rộng. Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế chính sách tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất (mô hình viện - trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp).

PV: Xin cảm ơn bà!

Bích Ngọc (thực hiện)

Đọc thêm

Triển khai khung pháp lý, sẵn sàng vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam

Triển khai khung pháp lý, sẵn sàng vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Việc triển khai khung pháp lý và hướng dẫn nghiệp vụ vận hành sàn giao dịch các-bon đang đánh dấu bước chuyển quan trọng của Việt Nam từ giai đoạn xây dựng chính sách sang vận hành thực tế. Không chỉ là công cụ hỗ trợ giảm phát thải, thị trường các-bon còn mở ra dư địa lớn cho dòng vốn xanh và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.
Công nghệ và tuần hoàn: Hiện thực hóa khát vọng nông nghiệp xanh và bền vững

Công nghệ và tuần hoàn: Hiện thực hóa khát vọng nông nghiệp xanh và bền vững

(TBTCO) - Trước áp lực dịch bệnh kéo dài và yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe, phát triển chăn nuôi tuần hoàn là hướng đi đúng đắn và phù hợp được các doanh nghiệp chăn nuôi lựa chọn. Hướng đi này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả kinh tế mà còn góp phần giảm áp lực môi trường.
Hà Nội thông qua quy hoạch 100 năm: Định hình đô thị đa trung tâm, vươn tầm toàn cầu

Hà Nội thông qua quy hoạch 100 năm: Định hình đô thị đa trung tâm, vươn tầm toàn cầu

(TBTCO) - Chiều 28/3, tại Kỳ họp thứ nhất, HĐND TP. Hà Nội khóa XVII đã chính thức thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm - một quyết sách chiến lược mang tính định hình tương lai phát triển dài hạn của Hà Nội trong thế kỷ XXI.
Ra mắt Quan hệ đối tác Đầu tư xanh Vương quốc Anh - Việt Nam

Ra mắt Quan hệ đối tác Đầu tư xanh Vương quốc Anh - Việt Nam

(TBTCO) - Đại sứ quán Anh tại Việt Nam và Tổng Lãnh sự quán Anh tại TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức thành công Diễn đàn Đầu tư xanh Vương quốc Anh - Việt Nam 2026, nhằm thúc đẩy hợp tác song phương trong lĩnh vực tài chính xanh, năng lượng sạch và tăng trưởng thích ứng với khí hậu.
Đòn bẩy đột phá cho ngành chăn nuôi hiện đại, bền vững

Đòn bẩy đột phá cho ngành chăn nuôi hiện đại, bền vững

(TBTCO) - Dư địa và khả năng tăng trưởng của ngành chăn nuôi hiện nay còn rất lớn. Do vậy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp rất quan trọng để tạo sự đột phá, phát triển nhanh, bền vững, tạo nền tảng để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, hiệu quả và có sức cạnh tranh.
Việt Nam nhận 72 triệu USD phát triển rừng bền vững miền Bắc

Việt Nam nhận 72 triệu USD phát triển rừng bền vững miền Bắc

(TBTCO) - Việt Nam sẽ nhận gần 72 triệu USD (tương đương khoảng 1.900 tỷ đồng) từ Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững và cải thiện sinh kế cho người dân tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Tuyên Quang.
Hà Nội phát động Giờ Trái đất 2026, thúc đẩy tiết kiệm năng lượng

Hà Nội phát động Giờ Trái đất 2026, thúc đẩy tiết kiệm năng lượng

(TBTCO) - Sáng 28/3, tại Công viên Thống Nhất, Sở Công thương TP. Hà Nội phối hợp cùng Cục đổi mới sáng tạo - Bộ Khoa học & Công nghệ, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và khuyến công - Bộ Công thương và Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ tổ chức lễ phát động hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất, cao điểm hè về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2026.
Việt Nam tham gia CORSIA từ 2026, thúc đẩy giảm phát thải hàng không

Việt Nam tham gia CORSIA từ 2026, thúc đẩy giảm phát thải hàng không

(TBTCO) - Thông qua CORSIA, Việt Nam đang từng bước tiếp cận các chuẩn mực khí hậu quốc tế, đồng thời tận dụng hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng lộ trình giảm phát thải và phát triển thị trường carbon trong nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều