Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS tại Việt Nam cùng KPMG:

Ảnh hưởng của Covid-19 đến kế toán các khoản mục công cụ tài chính áp dụng IFRS 9

(TBTCO) - Các ngân hàng áp dụng IFRS cần đánh giá, ghi nhận và thuyết minh đầy đủ tác động của đại dịch Covid-19 lên tất cả các yếu tố liên quan theo yêu cầu của IFRS 9 đối với các công cụ tài chính để đảm bảo chất lượng thông tin được truyền thông đến người đọc báo cáo tài chính.
aa
Ảnh hưởng của Covid-19 đến kế toán các khoản mục công cụ tài chính áp dụng IFRS 9
Bà Nguyễn Thị Đăng Phương Giám đốc Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn chuyển đổi IFRS KPMG Việt Nam.

Sự bất ổn kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra đã tác động đáng kể đến kết quả năm 2020 và 2021 của các ngân hàng trong nước và trên thế giới. Theo khảo sát với các ngân hàng lớn tại các quốc gia áp dụng IFRS, dự phòng tổn thất tín dụng dự kiến (Expected Credit Loss hay ECL) trong năm 2020 cao hơn đáng kể so với năm 2019.

Năm 2021, do các quốc gia lớn đã dần hồi phục kinh tế sau đại dịch nên ECL 6 tháng đầu năm 2021 được báo cáo thấp hơn cùng kỳ năm 2020.

Ảnh hưởng của Covid-19 đến kế toán các khoản mục công cụ tài chính áp dụng IFRS 9

Khi nào thì cần ghi nhận dự phòng tổn thất tín dụng dự kiến do tác động của dịch Covid-19

Không giống như một số khoản dự phòng khác, ECL theo IFRS 9 cần phải được ghi nhận trước cả khi sự kiện về tổn thất xảy ra. Hầu hết các ngân hàng đều thiết kế và xây dựng mô hình để tính toán ECL dựa trên dữ liệu quá khứ, điều kiện hiện tại và bao gồm cả thông tin dự báo tương lai.

Trong các mô hình dự phòng ECL này, các tài sản tài chính được phân vào các giai đoạn dựa trên mức độ thay đổi chất lượng tín dụng từ thời điểm ghi nhận ban đầu.

Ảnh hưởng của Covid-19 đến kế toán các khoản mục công cụ tài chính áp dụng IFRS 9

Ảnh hưởng của việc phân chia giai đoạn và ghi nhận ECL 12 tháng hay ECL toàn bộ vòng đời

Việc dịch chuyển một tài sản tài chính từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 hay 3 sẽ dẫn đến trích lập nhiều hơn ECL, xuất phát từ yêu cầu ước tính ECL trong cả vòng đời tài sản tài chính thay vì trong vòng 12 tháng tiếp theo kể từ ngày báo cáo.

Việc quyết định khi nào một tài sản tài chính phải chuyển giai đoạn cần căn cứ vào đánh giá “gia tăng đáng kể rủi ro tín dụng”. Đánh giá này cần được cân nhắc cẩn trọng trong quá trình thiết kế, xây dựng mô hình ECL cũng như điều chỉnh phù hợp với với thực tế hoạt động của ngân hàng trong từng giai đoạn.

Ảnh hưởng của Covid-19 đến kế toán các khoản mục công cụ tài chính áp dụng IFRS 9

Xác định tiêu chí của việc được đánh giá là gia tăng đáng kể rủi ro tín dụng

Rất nhiều quốc gia đã thực thi chính sách cơ cấu lại kỳ hạn thanh toán nợ như một bước đi để giảm bớt tác động và duy trì hoạt động kinh tế. Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của dịch Covid 19, rất nhiều khách hàng vay gặp khó khăn đã được các ngân hàng đồng ý cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí tuân thủ theo các quy định của Ngân hàng Nhà Nước.

Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, cơ quan ban hành chuẩn mực IFRS 9 như IASB đã làm rõ rằng không nên sử dụng các chính sách hoãn trả nợ (payment deferral programme) để làm các tiêu chí tự động cho việc đánh giá sự tăng đáng kể rủi ro tín dụng và từ đó tăng dự phòng theo ECL toàn bộ vòng đời.

Ngân hàng có thể cần phải phân biệt giữa các khách hàng vay sẽ chỉ gặp khó khăn trong ngắn hạn, có khả năng phục hồi nhanh chóng sau đại dịch và những khách hàng vay thuộc diện khó khăn trong thời gian dài hơn, khó phục hồi hơn. Nếu khách hàng vay có thể phục hồi trong thời gian ngắn thì việc sử dụng tiêu chí cơ cấu lại nợ làm tiêu chí xác định sự tăng đáng kể rủi ro tín dụng có thể sẽ là chưa hợp lý.

Tương tự như việc đo lường ECL, việc đánh giá liệu có sự gia tăng đáng kể rủi ro tín dụng kể từ khi nhận ban đầu cần mang tính dự báo hướng tới tương lai và bao gồm các thông tin hợp lý, sẵn có mà không mất quá nhiều thời gian và nỗ lực.

Ảnh hưởng của việc xác định tổn thất khi vỡ nợ (Loss Given Default hay LGD)

Tổn thất khi vỡ nợ là một ước tính về khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp sự kiện vỡ nợ xảy ra tại một thời điểm nhất định. Giá trị này được xác định dựa trên phần chênh lệch giữa dòng tiền đến hạn theo hợp đồng và dòng tiền dự kiến thu hồi, bao gồm thu hồi từ tài sản bảo đảm. Dịch Covid-19 có thể làm cho giá trị của tài sản đảm bảo bị giảm sút, từ đó làm tăng tổn thất khi vỡ nợ và ECL tương ứng.

Ảnh hưởng của việc xác định số dư tại thời điểm vỡ nợ (Exposure At Default hay EAD)

Số dư tại thời điểm vỡ nợ là một ước tính về số dư tại một thời điểm vỡ nợ trong tương lai, có tính đến việc thay đổi số dư sau ngày báo cáo, bao gồm việc thu hồi gốc và lãi theo hợp đồng và cả các khoản giải ngân dự kiến theo cam kết đã đưa ra, cộng với lãi dự thu.

Khách hàng gặp khó khăn do dịch Covid-19 có thể sẽ tận dụng các hạn mức tín dụng sẵn có của mình để giải ngân thêm tiền vay, từ đó làm tăng số dư tại thời điểm vỡ nợ và ECL tương ứng.

Ảnh hưởng của thông tin dự báo tương lai

Tổn thất tín dụng dự kiến là khoản tổn thất tín dụng phản ánh giá trị khách quan và có trọng số xác xuất được xác định bằng cách đánh giá các khả năng có thể xảy ra và xem xét các điều kiện kinh tế trong tương lai. Trong các mô hình tổn thất tín dụng, thông tin dự báo tương lai được sử dụng để ước tính tỷ lệ vỡ nợ của danh mục theo thời gian thông qua việc sử dụng các mô hình liên kết biến số kinh tế vĩ mô.

Theo yêu cầu của chuẩn mực, ngân hàng phải xây dựng tối thiểu là ba kịch bản kinh tế bao gồm một kịch bản cơ sở cũng là kịch bản trung tâm được phát triển nội bộ dựa trên các dự báo đồng thuận và hai kịch bản ít khả năng xảy ra hơn là một kịch bản tốt và một kịch bản xấu.

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các ngân hàng có thể phải xây dựng thêm một kịch bản các kịch bản xấu hơn hoặc tăng trọng số của kịch bản xấu so với kịch bản tốt và kịch bản cơ sở. Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể sử dụng phương pháp điều chỉnh của ban điều hành (management overlay) để điều chỉnh trực tiếp cho ảnh hưởng này.

Ảnh hưởng của việc thay đổi điều khoản điều kiện hợp đồng (Modification)

Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí cho các khoản vay thông thường sẽ được văn bản hóa bằng giấy đề nghị hay phụ lục hợp đồng vay được ký kết giữa khách hàng và ngân hàng để ghi nhận lại thỏa thuận này của đôi bên.

Chuẩn mực IFRS 9 có quy định cụ thể về hạch toán kế toán cho trường hợp phát sinh thay đổi các điều khoản, điều kiện so với hợp đồng ban đầu. Theo đó, ngân hàng sẽ phải đánh giá ảnh hưởng về mặt định lượng, và có thể cả về mặt định tính, xem liệu việc thay đổi đó có được xem là trọng yếu hay không. Nếu không trọng yếu, ảnh hưởng này sẽ được ghi nhận như một khoản chi phí (lỗ) vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Ngược lại, nếu như ảnh hưởng này là trọng yếu, ngân hàng sẽ cần phải dừng ghi nhận khoản cho vay và tính toán để ghi nhận khoản vay mới theo điều khoản, điều kiện đã thỏa thuận giữa hai bên kể từ khi có thay đổi. Việc đánh giá này đòi hỏi ngân hàng phải sự sẵn sàng trong thông tin về dòng tiền của các công cụ tài chính trước và sau thời điểm xảy ra việc thay đổi điều khoản điều kiện hợp đồng.

Do đó, các ngân hàng cần có sự chuẩn bị về mặt dữ liệu một cách đầy đủ để có thể đánh giá được chính xác ảnh hưởng này.

Ảnh hưởng của giá trị hợp lý (Fair value)

Đối với các công cụ tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ hoặc giá trị hợp lý thông qua báo cáo thu nhập toàn diện khác, sự thay đổi giá trị hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Bên cạnh đó, theo yêu cầu của chuẩn mực IFRS 7, ngân hàng cũng cần phải thuyết minh giá trị hợp lý của các công cụ tài chính, kể cả các công cụ tài chính được đo lường theo giá trị phân bổ. Dịch Covid-19 có thể gây tác động xấu đến giá thị trường của một số công cụ tài chính và làm cho giá trị hợp lý ghi nhận và thuyết minh trên báo cáo tài chính giảm sút.

Thuyết minh báo cáo tài chính

Theo yêu cầu của chuẩn mực IFRS 7, ngân hàng sẽ thuyết minh bản chất và mức độ rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính cũng như quy trình quản lý rủi ro liên quan của ngân hàng. Do đó, ngân hàng sẽ cần thuyết minh cụ thể ảnh hưởng của Covid-19 lên công cụ tài chính đang nắm giữ và cách thức ngân hàng quản lý rủi ro này như thế nào. Sau đây là một số ví dụ của các thuyết minh cụ thể:

- Chính sách quản lý rủi ro tín dụng có bị ảnh hưởng hay không, hoặc đã thay đổi như thế nào;

- Cách thức ngân hàng xác định sự gia tăng đáng kể rủi ro tín dụng kể từ ngày khi nhận ban đầu của các công cụ tài chính có thể cần thay đổi để phù hợp với tình hình hiện tại khi có ảnh hưởng của dịch Covid-19;

- Các phương pháp, giả định và dữ liệu sử dụng trong việc tính toán ECL;

- Thông tin về sự thay đổi việc phân chia giai đoạn đối với các khoản cho vay và số liệu ECL tăng thêm do ảnh hưởng của Covid-19;

- Các thông tin dự báo tương lai sử dụng trong việc tính toán ECL.

Tổng kết các vấn đề cần cân nhắc

Tựu chung lại, ngân hàng cần cân nhắc các vấn đề sau liên quan đến IFRS 9 trong thời kỳ bị ảnh hưởng bởi Covid-19:

- Xác định rủi ro vỡ nợ liên quan đến Covid 19 và đưa vào mô hình tính toán xác suất vỡ nợ cho từng khoản mục chịu rủi ro tín dụng một cách kịp thời;

- Xác định chênh lệch trong giá trị của các công cụ tài chính trước và sau khi có sự thay đổi về điều khoản, điều kiện hợp đồng để hạch toán kế toán phù hợp;

- Thuyết minh đầy đủ các thông tin cần thiết cho các ảnh hưởng nên trên.

Tác giả: bà Nguyễn Thị Đăng Phương – Giám đốc Kiểm toán và tư vấn chuyển đổi IFRS, có thâm niên hoạt động hơn 15 năm tại KPMG Việt Nam. Với kiến thức chuyên sâu về các chuẩn mực báo cáo tài chính trong nước và quốc tế, bà Đăng Phương đã tư vấn cho nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng về chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS. Bà hiện đang là giám đốc dự án của các dự án chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS cho nhiều ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài cũng như ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Đọc các phân tích chuyên sâu khác hoặc tham dự các hội thảo về áp dụng IFRS ở Việt Nam tại https://home.kpmg/vn/en/home/services/audit/international-financial-reporting-standards/ifrs-academy.html?cid=ext_ifrs_thoibaotaichinh

Tham khảo:

IFRS 9

IFRS 7

KPMG Insight into IFRS - KPMG Global

How has the credit risk of borrowers and other debtors - KPMG Global (home.kpmg)

COVID-19: Impact on the banking sector - KPMG Global (home.kpmg)

Covid-19 Economic Impact on Expected Credit Losses - KPMG UK

Đăng Phương

Đọc thêm

Chính sách tài khóa tạo lực cho chặng “về đích”, đưa GDP tăng trưởng hai con số

Chính sách tài khóa tạo lực cho chặng “về đích”, đưa GDP tăng trưởng hai con số

(TBTCO) - Chính sách tài khóa đang trở thành “trụ lực” quan trọng cho tăng trưởng, góp phần khơi thông nguồn lực. Trong giai đoạn “về đích” cuối năm, trọng tâm là tạo “hợp lực” giữa chính sách tài khóa - tiền tệ, khai thác dư địa chiến lược và hiện thực hóa các cơ chế tài chính đột phá, qua đó, tiếp sức mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Kiến tạo nền tài chính số từ tinh gọn thủ tục đến liên thông dữ liệu

Kiến tạo nền tài chính số từ tinh gọn thủ tục đến liên thông dữ liệu

(TBTCO) - Từ việc tinh gọn bộ máy, thủ tục, tối ưu hóa thời gian giải quyết cho đến việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung liên thông, ngành Tài chính đang từng bước khẳng định vị thế tiên phong trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Cải cách thể chế, mở đường cho kinh tế bứt phá

Cải cách thể chế, mở đường cho kinh tế bứt phá

(TBTCO) - Trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chính phủ đã thúc đẩy thực hiện nhiều cải cách quy mô lớn, từ cắt giảm điều kiện kinh doanh, giảm thuế, khơi thông nguồn lực đất đai đến đổi mới quản lý ngân sách và phát triển khoa học, công nghệ. Những quyết sách được triển khai xây dựng với tốc độ khẩn trương đang mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng sức bật của nền kinh tế sẽ còn phụ thuộc vào khả năng đưa cải cách vào thực tiễn.
Nâng tầm dự trữ quốc gia, bảo đảm tự chủ chiến lược

Nâng tầm dự trữ quốc gia, bảo đảm tự chủ chiến lược

(TBTCO) - Đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Ngành Dự trữ Nhà nước cũng đứng trước yêu cầu chuyển mình mạnh mẽ, vừa bảo đảm nguồn lực ứng phó với các tình huống cấp bách, vừa xây dựng hệ thống dự trữ chiến lược hiện đại, chủ động và linh hoạt, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế, ổn định vĩ mô và nâng cao năng lực tự chủ của đất nước.
Kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

(TBTCO) - Từ đầu năm đến nay mặt bằng giá cơ bản vẫn được kiểm soát, song dư địa không còn lớn trong những tháng cuối năm. Điều này đòi hỏi công tác điều hành giá phải chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ hơn giữa các bộ, ngành.
Dấu son trong lịch sử ngành Tài chính Việt Nam

Dấu son trong lịch sử ngành Tài chính Việt Nam

(TBTCO) - Tín phiếu được in ấn tại Xưởng in Tín phiếu Liên khu V là một trong những đề xuất sáng tạo của Bộ Tài chính nhằm đảm bảo việc lưu thông tiền tệ tại Nam Trung Bộ, tạo ra nguồn lực tài chính phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến của dân tộc.
Hà Nội tập trung giải quyết hạ tầng trước mắt, mở không gian phát triển dài hạn

Hà Nội tập trung giải quyết hạ tầng trước mắt, mở không gian phát triển dài hạn

(TBTCO) - Tại Lễ khánh thành, khởi công các dự án, công trình tiêu biểu chào mừng 81 năm Ngày Quốc khánh 2/9 diễn ra chiều 28/8, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định, nhìn tổng thể 17 công trình, dự án được lựa chọn lần này, có thể thấy rõ hai nhóm nhiệm vụ mà Thành phố đang tập trung thực hiện, đó là giải quyết những vấn đề hạ tầng đặt ra trước mắt và chuẩn bị thêm năng lực, không gian phát triển cho Hà Nội trong những năm tới.
Hà Nội khởi công, khánh thành 17 dự án, công trình tiêu biểu chào mừng Quốc khánh 2/9

Hà Nội khởi công, khánh thành 17 dự án, công trình tiêu biểu chào mừng Quốc khánh 2/9

(TBTCO) - Chiều ngày 28/8, UBND TP. Hà Nội tổ chức Lễ khởi công, khánh thành các dự án, công trình tiêu biểu chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026). Trong đó, 17 dự án, công trình tiêu biểu được lựa chọn với tổng mức đầu tư khoảng 397.018 tỷ đồng, gồm 11 công trình khánh thành, thông xe kỹ thuật và 6 dự án, công trình khởi công.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều