Các ngân hàng đã miễn giảm lãi suất 27 nghìn tỷ đồng

Chí Tín
Theo thông tin mới cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước tại cuộc họp báo vừa diễn ra chiều 12/10 tại Hà Nội, tính đến hết tháng 9, các ngân hàng đã thực hiện miễn giảm lãi suất với tổng số tiền 27 nghìn tỷ đồng.
aa

Cụ thể, các ngân hàng và tổ chức tín dụng đã miễn, giảm lãi suất cho 1,7 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ gần 2,5 triệu tỷ đồng trong thời gian từ 23/1/2021 đến cuối tháng 9.

Đồng thời, các tổ chức tín dụng đã cho vay mới 5,2 triệu tỷ đồng cho 800 nghìn khách hàng với mức lãi suất thấp hơn trước dịch.

Các ngân hàng đã miễn giảm lãi suất 27 nghìn tỷ đồng
Các ngân hàng đã miễn giảm 27 nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất. Ảnh. C.T

Riêng 16 ngân hàng thương mại (chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế) đã thực hiện có kết quả việc giảm lãi suất cho vay cho khách hàng theo cam kết với Hiệp hội ngân hàng. Tổng số tiền lãi đã giảm cho vay khách hàng theo cam kết lũy kế từ 15/7/2021 đến cuối tháng 9/2021 là 11.812 tỷ đồng, đạt 57,31% so với cam kết.

Về điều hành tín dụng, tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 7/10/2021 đạt 7,42%, cao hơn so với mức 5,48% cùng kỳ năm trước.

Đối với cho vay trả lương ngừng việc và trả lương phục hồi sản xuất theo Nghị quyết 68/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định 23/2021/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, đến cuối tháng 9/2021, Ngân hàng Nhà nước đã giải ngân tái cấp vốn 462 tỷ đồng cho Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay theo Nghị quyết 68. Theo đó, 461 tỷ đồng đã giải ngân đến 918 khách hàng vay vốn để trả lương cho 130.741 lượt người lao động.

Về tín dụng cho thu mua, tiêu thụ lúa gạo, sau hơn 1 tháng kể từ khi có công văn 5747/NHNN-TD của Ngân hàng Nhà nước; dư nợ cho vay tại Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng gần 5.000 tỷ đồng, hạn mức cấp tín dụng tăng thêm 1.500 tỷ đồng.

Về hoạt động thanh toán, tổng số giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng 8 tháng đầu năm 2020 tăng 3,32% về số lượng và tăng 41,37% về giá trị so với cùng kỳ.

Thanh toán qua internet tăng tương ứng 54,13% về số lượng và 30,7% về giá trị so với cùng kỳ, thanh toán qua điện thoại di động tăng tương ứng 74,98% và 93,69%, qua kênh QR code tăng tương ứng 66,81% và 133,12%./.

Chí Tín

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
Kim TT/AVPL 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 14,500 ▼50K 14,700 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,450 ▼50K 14,650 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,900 15,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,850 15,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,780 15,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 151,400 ▼1600K 154,400 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,140 ▼160K 15,440 ▼160K
NL 99.90 14,100 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,150 ▼100K
Trang sức 99.9 14,630 ▼160K 15,330 ▼160K
Trang sức 99.99 14,640 ▼160K 15,340 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,514 ▲1361K 15,442 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,514 ▲1361K 15,443 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,512 ▼16K 1,542 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,512 ▼16K 1,543 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,492 ▼16K 1,527 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 144,688 ▼1584K 151,188 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 105,786 ▼1201K 114,686 ▼1201K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 95,096 ▼1088K 103,996 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 84,406 ▼976K 93,306 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 80,283 ▼933K 89,183 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 54,932 ▲54376K 63,832 ▲63187K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,514 ▲1361K 1,544 ▲1388K
Cập nhật: 05/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18225 18500 19076
CAD 18406 18683 19299
CHF 32701 33085 33729
CNY 0 3845 3937
EUR 29946 30219 31244
GBP 34537 34929 35863
HKD 0 3230 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15128 15713
SGD 19946 20229 20745
THB 720 784 837
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,033 30,057 31,371
JPY 160.03 160.32 169.33
GBP 34,675 34,769 35,830
AUD 18,363 18,429 19,049
CAD 18,560 18,620 19,233
CHF 32,921 33,023 33,871
SGD 20,039 20,101 20,811
CNY - 3,810 3,940
HKD 3,291 3,301 3,427
KRW 15.68 16.35 17.73
THB 767.04 776.51 827.91
NZD 15,066 15,206 15,598
SEK - 2,754 2,841
DKK - 4,018 4,144
NOK - 2,765 2,852
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,105.09 - 6,867.22
TWD 753.13 - 908.27
SAR - 6,889.16 7,228.16
KWD - 83,426 88,422
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26404
AUD 18407 18507 19429
CAD 18585 18685 19696
CHF 32940 32970 34561
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30121 30151 31876
GBP 34828 34878 36647
HKD 0 3355 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15229 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20098 20228 20955
THB 0 749.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15140000 15140000 15440000
SBJ 13000000 13000000 15440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,404
USD20 26,155 26,205 26,404
USD1 23,890 26,205 26,404
AUD 18,420 18,520 19,636
EUR 30,269 30,269 31,691
CAD 18,525 18,625 19,941
SGD 20,167 20,317 20,887
JPY 161.59 163.09 167.7
GBP 34,731 35,081 36,250
XAU 15,298,000 0 15,602,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80