Câu chuyện tỷ giá, lãi suất và những dự cảm năm mới

Chí Tín
(TBTCO) - Năm 2023 khép lại với một bức tranh êm đềm về tỷ giá, nhưng lại nhiều sóng gió với diễn biến lãi suất. Một năm cũ đã đi qua, nền kinh tế bước vào giai đoạn mới, những cơ hội đan xen thách thức đang đợi chờ phía trước và việc dự cảm sớm các thay đổi có thể diễn ra sẽ là hành trang cho chặng đường phía trước.
aa
Câu chuyện tỷ giá, lãi suất  và những dự cảm năm mới
Cuối năm 2023, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại đã thấp hơn khoảng 2,5% so với cuối 2022.

Lãi suất đi vào vùng đáy

Sóng gió của các diễn biến lãi suất đã hình thành từ cuối năm 2022 và tiếp tục ảnh hưởng sang năm 2023, gây ra nhiều khó khăn cho cả các ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao - có lúc lên tới trên 11% vào cuối năm 2022 - tiếp tục phải đối diện với chi phí vốn tăng cao trong năm 2023. Trong khi đó, các doanh nghiệp đã phải trải qua một năm vật lộn với nhiều khó khăn cả từ yếu tố thị trường bên ngoài, lẫn các khó khăn do chi phí tài chính tăng cao.

Thực tế, những cơn sóng lớn về lãi suất cũng là một câu chuyện chung trong bối cảnh thị trường tiền tệ thế giới “nổi sóng”, thể hiện ở các đợt lãi suất tăng liên tục của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới. Trong suốt năm 2022 và 2/3 thời gian của năm 2023, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã thực hiện 11 lần tăng lãi suất, với tổng mức tăng 5,25 phần trăm. Giai đoạn này cũng là thời kỳ thắt chặt quyết liệt nhất của FED kể từ đầu năm niên 1980. Cùng với động thái tăng lãi suất rất quyết liệt của FED, một loạt ngân hàng Mỹ đã sụp đổ, mở màn là sự sụp đổ của Silicon Valley Bank (SVB). Tiếp theo đó là các ngân hàng khác như Signature Bank (SB), First Republic Bank…

TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ quốc gia cho biết, SVB sụp đổ do ngân hàng này tập trung quá nhiều vào một số ít lĩnh vực, đó là công nghệ, đổi mới sáng tạo…, trong khi đây là những lĩnh vực rủi ro, có nhiều biến động nhanh khi nền kinh tế có sự điều chỉnh, suy giảm tăng trưởng từ đầu 2022. Còn với SB, bản chất hoạt động của ngân hàng này cũng khá tương đồng với SVB, đặc biệt việc cùng phục vụ chính các công ty khởi nghiệp và khi các công ty này rút vốn dẫn đến việc mất thanh khoản.

Trở lại câu chuyện của thị trường tiền tệ trong nước, trước những sức ép rất lớn từ bên ngoài, Quốc hội và Chính phủ vẫn đặt quyết tâm thực thi các chính sách hiệu quả, linh hoạt để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Thực hiện các chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ, trong năm 2023, NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành. Mặc dù vậy, những “sóng gió” về vấn đề lãi suất vẫn chưa hẳn đã được giải quyết ngay do chính sách chưa thể tác động ngay đến nền kinh tế. Lãi suất tuy có giảm sau đó, nhưng tốc độ giảm lãi suất cho vay khá chậm, khiến cho các doanh nghiệp vẫn tiếp tục phải gồng mình để vượt qua các khó khăn về chi phí tài chính.

Trong bối cảnh này, các chuyên gia tài chính cũng đã tham mưu thêm nhiều giải pháp để cùng hỗ trợ giải quyết những khó khăn chung của doanh nghiệp. TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Quản ký kinh tế Trung ương đề xuất các giải pháp về cải cách môi trường đầu tư kinh doanh để hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi đó, TS. Phạm Thế Anh - Trưởng Khoa Kinh tế học thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân thì nhấn mạnh các giải pháp kích thích tổng cầu và khuyến khích đầu tư tư nhân cũng là một giải pháp hợp lý, đồng thời cũng cần kiểm soát tăng cung tiền ở mức vừa phải.

Sau những giai đoạn nhiều sóng gió, đến cuối năm 2023, diễn biến lãi suất trong nước đã bước vào giai đoạn êm dịu và hứa hẹn sẽ là động lực quan trọng giúp nền kinh tế tăng tốc trong năm 2024. Theo NHNN, đến cuối năm 2023, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại đã giảm thấp hơn khoảng 2,5% so với cuối năm 2022. Ngoài ra, diễn biến lãi suất cho vay có thể sẽ có cơ sở để giảm thêm trong năm 2024, bởi đến tận cuối năm 2023 (tháng 11 và tháng 12), nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động với mặt bằng lãi suất đầu vào, thậm chí đã thấp hơn cả giai đoạn trước dịch Covid-19.

Một năm yên bình của tỷ giá

Câu chuyện tỷ giá, lãi suất  và những dự cảm năm mới

Khác với những sóng gió với lãi suất, tỷ giá năm 2023 diễn biến khá êm đềm, khác khá nhiều với những diễn biến tỷ giá năm 2022.

Trước đó trong năm 2022, tỷ giá đã có thời điểm “nổi sóng”, cao điểm rơi vào tháng 10 - 11/2022, khi đến tháng 11/2022, tỷ giá đồng USD/VND đã tăng khoảng 7% so với cuối năm 2021. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá năm 2023 cho thấy tỷ giá USD chỉ tăng hơn 1%, tốc độ tăng tỷ giá trong năm 2023 theo đó thấp hơn khá nhiều so với năm trước.

Bám sát các chỉ đạo về điều hành chính sách tiền tệ

NHNN cho biết, trên cơ sở bám sát các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, từ đầu năm 2023, NHNN đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN (ngày 17/1/2023) yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành thực hiện nghiêm túc các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2023. Trên cơ sở đó, chính sách đã góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 3,2 - 3,4%.

Trong năm 2023, NHNN cũng có một số thời điểm phải có động thái can thiệp để điều tiết tỷ giá, nhưng việc can thiệp ở mức độ khá nhẹ nhàng, chỉ trong phạm vi thị trường tiền tệ liên ngân hàng, không gây tác động đến thị trường ngoài khu vực dân cư. Động thái đáng chú ý nhất về sự can thiệp của NHNN là giai đoạn hút tiền trên thị trường mở của NHNN thông qua phát hành tín phiếu, kéo dài khoảng 1,5 tháng từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11/2023. Ông Nguyễn Đắc Toại - chuyên viên tư vấn thuộc Công ty chứng khoán SSI cho biết, đây là quyết định kịp thời của NHNN để giảm thiểu đầu cơ tỷ giá trong hệ thống ngân hàng.

Giai đoạn NHNN can thiệp trên thị trường mở là thời kỳ giá đồng USD trên thị trường quốc tế tăng cao, qua đó phần nào làm tỷ giá trong nước gợn sóng. Thời kỳ đó, chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng USD có thời điểm tăng lên mức trên 102 điểm. Tuy nhiên đến cuối năm, chỉ số DXY đã quay đầu giảm về mức chỉ khoảng trên 103 điểm và theo đó, NHNN đã dừng việc can thiệp trên thị trường mở.

Trong khi đó, diễn biến xuất nhập khẩu vẫn trong trạng thái xuất siêu suốt năm 2023 cũng là yếu tố giúp cho nguồn cung ngoại tệ khá dồi dào. Số liệu Tổng cục Thống kê cho thấy, cán cân thương mại hàng hóa năm 2023 xuất siêu 28 tỷ USD, cao hơn khá nhiều so với mức xuất siêu 12,1 tỷ USD của năm 2022.

Bước vào những ngày đầu năm 2024, tỷ giá tiếp tục diễn biến trong trạng thái khá ổn định, ít nhất trong ngắn hạn, đặc biệt giai đoạn đầu năm dương lịch nói chung vẫn thường là thời điểm thuận lợi về tỷ giá nhờ có nguồn cung từ kiều hối. TS. Châu Đình Linh - giảng viên Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, dòng kiều hối đổ về giai đoạn giáp Tết Nguyên đán (cuối năm 2023 đầu năm 2024 tính theo năm Dương lịch) là yếu tố quan trọng có thể làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ.

Tuy nhiên về mặt trung và dài hạn, năm 2024 có thể cũng có những yếu tố chưa chắc chắn về cung cầu ngoại tệ. Cụ thể là trạng thái xuất siêu diễn ra trong suốt năm 2023 dựa trên yếu tố sụt giảm cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu mà đây là xuất phát từ bối cảnh khó khăn, chứ không phải từ bối cảnh thuận lợi. Lý do là doanh nghiệp xuất khẩu bị thu hẹp thị trường nên từ đó cắt giảm nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào. Theo đó, năm 2024 và giai đoạn tiếp theo nếu thị trường xuất khẩu phục hồi thì đây có thể coi là tín hiệu tích cực của nền kinh tế, nhưng ảnh hưởng của nó đến tỷ giá cũng có thể xảy ra khi nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu tăng cao trở lại.

Lãi suất cho vay có thể giảm thêm trong năm 2024

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2023, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại đã giảm thấp hơn khoảng 2,5% so với cuối năm 2022. Ngoài ra, diễn biến lãi suất cho vay có thể sẽ có cơ sở để giảm thêm trong năm 2024, bởi đến tận cuối năm 2023 (tháng 11 và tháng 12), nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động với mặt bằng lãi suất đầu vào, thậm chí đã thấp hơn cả giai đoạn trước dịch Covid-19.

Chí Tín

Đọc thêm

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng chảy vào bất động sản đang phân hóa rõ nét, có ngân hàng tăng dư nợ trên 50%, song cũng không ít ngân hàng chủ động thu hẹp dư nợ để kiểm soát rủi ro. "Van" tín dụng đang được điều tiết có chọn lọc, với hàng chục nghìn tỷ đồng hướng vào cho vay mua, thuê nhà và các phân khúc ưu tiên.
Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị người thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế gia hạn trước khi thẻ hết giá trị sử dụng và chủ động kiểm tra thông tin sau khi đóng tiền để đảm bảo quyền lợi tham gia liên tục.
Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

(TBTCO) - Tỷ lệ học sinh sinh viên tham gia bảo hiểm y tế đã đạt 99,39%, tạo nền tảng quan trọng để tiến tới mục tiêu 100% vào năm 2030. Để “phủ kín” lưới an sinh y tế, cần tiếp tục tháo gỡ những khoảng trống còn lại, nhất là với học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và nhóm sinh viên chưa duy trì tham gia liên tục.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,400
Hà Nội - PNJ 142,400 145,400
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,400
Miền Tây - PNJ 142,400 145,400
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,400
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 14,540
Miếng SJC Nghệ An 14,240 14,540
Miếng SJC Thái Bình 14,240 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,240 14,590
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,240 14,590
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,240 14,590
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,900 14,500
Trang sức 99.99 13,910 14,510
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 14,542
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 14,543
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 142,475
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 108,086
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 98,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 87,938
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 84,052
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 60,162
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 1,454
Cập nhật: 12/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18043 18317 18901
CAD 18167 18443 19062
CHF 31138 31516 32163
CNY 0 3821 3917
EUR 29415 29636 30717
GBP 34201 34591 35529
HKD 0 3174 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14773 15364
SGD 19906 20188 20760
THB 700 763 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 12/09/2026 07:00
Ngân hàng