Cộng đồng doanh nghiệp mong chờ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%

Gia Cư (thực hiện)
(TBTCO) - Để hỗ trợ lãi suất 2% theo Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội, trong quý I/2022 Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. PGS.TS Trần Huy Hoàng - Trường Đại học Tài chính – Maketing cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp đang rất kỳ vọng, mong đợi chính sách này sớm đi vào cuộc sống.
aa

Cộng đồng doanh nghiệp mong chờ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Chính phủ đã có nhiều ưu đãi giúp doanh nghiệp có thêm nguồn tài chính
để đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh.

PV: Thưa PGS. TS Trần Huy Hoàng, như ông đã biết, ngày 11/1/2022 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có chính sách hỗ trợ lãi suất tính dụng. Trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng, triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội kỳ vọng đạt được những gì?

PGS.TS Trần Huy Hoàng: Theo nhận định của ông Jacques Morisset - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, trong năm 2021, kinh tế thế giới sẽ có mức tăng trưởng khoảng 5% - 5,5%, trong khi Việt Nam chỉ tăng trưởng khoảng 2% - 2,5%. Do vậy, Việt Nam cần thiết phải có những giải pháp để phục hồi và phát triển bền vững kinh tế.

Tuy nhiên, việc phục hồi và phát triển kinh tế bền vững bằng cách tập trung tăng cả tổng cung và tổng cầu là không dễ thực hiện trong điều kiện nền kinh tế còn đang suy yếu do ảnh hưởng của dịch bệnh. Do vậy, việc kết hợp hài hòa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để phục hồi và phát triển kinh tế là tất yếu.

Cộng đồng doanh nghiệp mong chờ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
PGS.TS Trần Huy Hoàng

Mục tiêu của chương trình là phục hồi, phát triển nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, ưu tiên một số ngành, lĩnh vực quan trọng, phấn đấu đạt mục tiêu của giai đoạn 2021 - 2025 tăng trưởng GDP bình quân 6,5 - 7%/năm; chỉ tiêu nợ công dưới mức cảnh báo Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 
23/2021/QH15; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn trong trung hạn và dài hạn; tiết giảm chi phí, hỗ trợ dòng tiền, bảo đảm tính chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và người dân; phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả; bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người lao động, người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

PV: Nhóm ngân hàng thương mại là nhóm chủ lực trong cho vay đối với nền kinh tế với quy mô dư nợ chiếm 94% tổng dư nợ cho vay của hệ thống tổ chức tín dụng. Những đối tượng nào được ưu tiên hỗ trợ, thưa ông?

PGS.TS Trần Huy Hoàng: Theo nghị quyết, đối tượng được hỗ trợ lãi suất là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có mục đích sử dụng vốn thuộc các ngành nghề: hàng không, vận tải kho bãi; du lịch; dịch vụ lưu trú, ăn uống; giáo dục và đào tạo; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp, chế biến, chế tạo; xuất bản phần mềm; lập trình máy vi tính và hoạt động có liên quan; hoạt động dịch vụ thông tin. Hoặc có mục đích sử dụng vốn để xây dựng nhà ở cho công nhân mua, thuê và thuê mua; xây dựng nhà ở xã hội; cải tạo chung cư cũ, thuộc danh mục dư án do Bộ Xây dựng công bố.

Cho vay ưu đãi đối với
người lao động, tạo việc làm

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vừa có văn bản gửi Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố triển khai các chính sách cho vay ưu đãi và hỗ trợ lãi suất trên địa bàn theo Nghị quyết 11 của Chính phủ. Theo đó, Ngân hàng Chính sách xã hội TP. Hồ Chí Minh cần thực hiện hiệu quả chính sách cho vay đối với người lao động, cá nhân, hộ gia đình, học sinh, sinh viên, cơ sở giáo dục.

Cụ thể, tiếp tục cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm theo quy định; tiếp tục cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữ nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội; cho vay đối với học sinh, sinh viên để mua máy tính, thiết bị học tập trực tuyến và trang trải chi phí học tập theo quy định… Các đối tượng trên sẽ được hỗ trợ lãi suất 2%/năm trong 2 năm 2022 - 2023 đối với những khoản vay có lãi suất trên 
6%/năm và được Ngân hàng Chính sách xã hội TP. Hồ Chí Minh giải ngân trong giai đoạn này.

Mức lãi suất hỗ trợ đối với khách hàng là 2%/năm đối với khoản vay được giải ngân trong khoảng thời gian từ 11/1/2022 đến hết ngày 31/12/2023. Các khoản vay của khách hàng sẽ được hỗ trợ giảm lãi suất đến hết ngày 31/12/2023 hoặc tổng số tiền hỗ trợ lãi suất cho khách hàng đạt tối đa 40.000 tỷ đồng, tùy theo thời điểm nào đến trước.

Mức lãi suất hỗ trợ đối với khách hàng là 2%/năm, tính trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay hỗ trợ lãi suất thực tế nằm trong khoảng thời gian theo quy định.

PV: Vậy theo ông, các nguyên tắc hỗ trợ lãi suất, đối tượng khách hàng vay vốn được hỗ trợ lãi suất là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đủ điều kiện như thế nào là phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay?

PGS.TS Trần Huy Hoàng: Nguyên tắc hỗ trợ lãi suất cần tránh kiểu dàn trải, bình quân, nhỏ giọt. Đối tượng khách hàng vay vốn được hỗ trợ lãi suất cần được chọn lọc hơn, tập trung hơn vào các doanh nghiệp quy mô lớn, có ảnh hưởng, lan tỏa mạnh mẽ đến các khu vực khác trong nền kinh tế.

Ngoài gói hỗ trợ lãi suất bằng ngân sách nhà nước, nên sử dụng nguồn lực khác như Ngân hàng Nhà nước tác động các tổ chức tín dụng giảm chi phí hoạt động để tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.

Các tổ chức tín dụng cần thực hiện cam kết giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Đối với tín dụng cá nhân, hộ gia đình, Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo Ngân hàng Chính sách xã hội giảm lãi suất cho vay đối với hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo; đồng thời, xây dựng và triển khai chương trình cho vay vốn tạo việc làm đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Tôi cho rằng, dù là doanh nghiệp, hợp tác xã hay hộ kinh doanh thì họ đều đang rất kỳ vọng, mong chờ chính sách này sớm đi vào cuộc sống.

PV: Xin cảm ơn ông!

Doanh nghiệp có thêm nguồn tài chính để sản xuất kinh doanh

Triển khai Nghị quyết số 11 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ lãi suất 2%/năm tối đa 40.000 tỷ đồng thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại đối với các khoản vay cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có khả năng trả nợ và có khả năng phục hồi trong một số ngành, lĩnh vực. Gói hỗ trợ này đang được các đối tượng nằm trong chương trình mong mỏi sớm được triển khai để khôi phục lại các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo ghi nhận của cộng đồng doanh nghiệp, ảnh hưởng từ dịch Covid-19 trong hai năm qua đã khiến nhiều doanh nghiệp lao đao điêu đứng và bên bờ vực phá sản. Tiếp nhận gói hỗ trợ lãi suất 2%/năm sẽ giúp họ sẽ có thêm nguồn tài chính để đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phục hồi lại các hoạt động của mình.

Ông Trần Đức Nghĩa - Giám đốc Công ty quốc tế Delta, bày tỏ trong bối cảnh giá cả xăng dầu đang leo thang, việc giảm lãi suất cho doanh nghiệp sẽ góp phần hỗ trợ để vượt qua khó khăn vì dịch bệnh cũng như các tác động của thị trường.

“Giảm lãi suất cho vay thông qua các gói hỗ trợ, chúng tôi cũng đang rất mong chờ được hưởng lợi từ các chính sách này. Nhưng đến bây giờ chúng tôi cũng chưa biết sẽ được triển khai như thế nào. Nội dung mới chỉ nằm trong nghị quyết của Quốc hội. Vì vậy, chúng tôi cũng rất mong muốn những gói hỗ trợ nằm trong nhóm chính sách tiền tệ của Chính phủ sẽ hỗ trợ chúng tôi tốt hơn, để vượt qua dịch bệnh, cũng như là để đối phó với biến động giá cả xăng dầu như hiện nay" - ông Nghĩa cho biết.

Gia Cư (thực hiện)

Đọc thêm

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 14,820
Miếng SJC Nghệ An 14,520 14,820
Miếng SJC Thái Bình 14,520 14,820
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 14,720
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 14,610
Trang sức 99.99 13,920 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 14,822
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 14,823
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 1,473
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 143,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 109,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 98,896
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 88,731
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 8,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 60,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cập nhật: 17/07/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80