Đo lường biến động tỷ giá trước động thái FED thắt chặt tiền tệ

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) phát đi tín hiệu sẽ thực thi các biện pháp thắt chặt tiền tệ trước bối cảnh lạm phát tăng cao tại quốc gia này trong thời gian qua. Động thái này có thể ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến biến động tỷ giá của đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ trong thời gian tới.
aa

FED quyết siết tiền tệ

Giữa tháng 12/2021, FED đã đi đến quyết định sẽ kết thúc việc mua trái phiếu thời kỳ đại dịch vào cuối tháng 3/2022, mở đường cho 3 đợt tăng lãi suất, với biên độ 0,25 điểm phần trăm vào cuối năm 2022.

Đo lường biến động tỷ giá  trước động thái FED thắt chặt tiền tệ

Tỷ giá có thể tăng nhẹ, nhưng không nhiều do kinh tế nước ta đang phục hồi.

Quyết định thắt chặt tiền tệ của FED đưa ra trong bối cảnh sức ép lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng tại đây. Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ công bố vào tháng 12/2021 cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ trong tháng 11/2021 tăng lên tới 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái, mức cao nhất kể từ năm 1982.

Lạm phát tăng mạnh trên 5% liên tục trong nửa năm qua. CPI trong tháng 11 cao hơn 0,8% so với tháng 10 vốn đã tăng 0,9% so với tháng trước đó. Mức lạm phát phản ánh giá cả một loạt mặt hàng tăng mạnh khi kinh tế Mỹ đang dần phục hồi sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19. Trong tháng 10/2021, giá thực phẩm tại Mỹ đã tăng 4,9%, giá xăng tăng 6,1% trong khi giá xe hơi tăng hơn 11%.

Động thái FED tăng lãi suất được giới chuyên môn dự báo có thể cũng khiến cho nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới cũng tăng lãi suất và điều này đồng nghĩa với thời kỳ tiền rẻ (lãi suất siêu thấp) sẽ kết thúc. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là kinh tế thế giới sẽ chuyển sang giai đoạn tiền đắt, mà chỉ là bớt rẻ hơn so với trước.

Đo lường biến động tỷ giá  trước động thái FED thắt chặt tiền tệ

Ông Hồ Quốc Tuấn - giảng viên Đại học Bristol (Anh), cho biết tiền sẽ không còn quá rẻ, cũng không thể rẻ hơn nữa, nhưng vẫn rẻ. Điều này là hợp lý vì các ngân hàng trung ương trên thế giới vẫn lo ngại những diễn biến bất định của dịch Covid-19 và nền kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. “Thắt chặt hơn nữa sẽ không phải là tối ưu, tựa như khi bạn đang chạy nhanh mà thắng quá gấp sẽ khó tránh dẫn đến một cú lật xe” - ông Tuấn nhận định.

Tuy vậy, động thái thắt chặt tiền tệ của FED ít nhiều cũng gây tác động làm đồng USD tăng giá. Do lãi suất đồng USD tăng sẽ khiến đồng nội tệ của các nước (nhất là thị trường mới nổi) mất giá tương ứng. Theo đó, nhiều ngân hàng trung ương các nước cũng sẽ tăng lãi suất và thực tế một số nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nga… đã hành động theo hướng này.

Cân đong tác động tỷ giá

Theo trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Duy Thành - Trưởng phòng phân tích Công ty chứng khoán Pinetree, cho biết hành động trên của FED, cũng như sau đó là của nhiều ngân hàng trung ương khác có thể sẽ tác động theo nhiều chiều tới kinh tế Việt Nam.

Theo lý thuyết thì khi một nền kinh tế có lạm phát cao hơn nền kinh tế kia, đồng tiền của nó cũng mất giá tương ứng. Điều này phần nào thể hiện qua 3 lần giảm giá của USD ngay trong 2020. Tiếp đó, khi lạm phát được kiểm soát, lãi suất tăng lên lại giúp đồng USD mạnh lên, làm tăng giá USD.

Hiện tại, Mỹ là đối tác thương mại rất lớn của Việt Nam với kim ngạch xuất nhập khẩu song phương đạt 89,6 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 76 tỷ USD và nhập khẩu chỉ 12,9 tỷ USD. Dễ nhận ra rằng, đồng USD mạnh lên cũng làm cho hàng hóa Việt Nam có giá cạnh tranh hơn trên thị trường Mỹ, kích thích xuất khẩu nhiều mặt hàng nội địa chủ lực như dệt may, đồ gỗ, nông thổ sản.

Tuy nhiên, nhìn lại từ góc độ FDI, có hai yếu tố sẽ cản trở xu hướng USD tăng giá trên. Một là FDI vào Việt Nam vẫn duy trì trung bình 30 tỷ USD/năm ngay trong giai đoạn dịch 2020 - 2021 hay gần 9% GDP, nguồn cung USD dồi dào sẽ hạn chế sức tăng của tỷ giá. Hai là, việc tăng tỷ giá nếu xảy ra có thể tác động dòng vốn FDI trong thời gian tới, các nhà đầu tư có thể quan sát và giải ngân vào thời điểm hợp lý nhất đề phòng rủi ro tỷ giá và động thái này cũng sẽ có tác động điều hòa tỷ giá.

Với bối cảnh như hiện nay, các chuyên gia đánh giá rằng nếu các con số đưa ra không vượt quá kỳ vọng trước đây thì mọi thứ vẫn đi đúng hướng. “Nhìn chung, việc điều tiết chính sách tỷ giá cho hài hòa lợi ích các bên là điều cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam hiện tại” - ông Thành đưa ra nhận định thêm.

Cụ thể giới chuyên gia kinh tế dự đoán, tỷ giá có thể tăng nhẹ, nhưng không nhiều do kinh tế nước ta đang phục hồi (tăng trưởng khoảng 2% năm 2021 và sẽ phục hồi lên mức 6,5% - 7% nếu Việt Nam kiểm soát tốt dịch bệnh và thực hiện thành công Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội). Với số liệu kinh tế hiện tại, nếu lãi suất đồng USD tăng mà lãi suất VND giữ nguyên năm sau thì tỷ giá đồng Việt Nam so với USD tăng từ 1 - 2% sẽ hợp lý.

Một số hành động của FED trong năm 2022 và các năm tới

Cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ của FED cho biết, sẽ bắt đầu giảm mua tài sản từ tháng 1/2022 (mỗi tháng giảm 30 tỷ USD) và sẽ kết thúc việc mua trái phiếu thời kỳ đại dịch vào cuối tháng 3 hoặc tháng 4/2022.

Các quan chức FED dự kiến có 3 lần tăng lãi suất vào năm 2022, nâng lãi suất từ 0% - 0,25% lên dần 0,75% - 1%. Cơ quan này dự kiến tiếp tục tăng 3 lần vào năm 2023 và 2 lần vào năm 2024.

Chí Tín

Đọc thêm

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

(TBTCO) - Thanh toán số tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, theo Mastercard, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi số lượng người dùng hay số lượng giao dịch, mà bởi khả năng kết nối giữa các hệ sinh thái thanh toán và mức độ tin cậy mà người dùng dành cho các trải nghiệm số.
ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu đăng ký giao dịch lên gần 1,4 tỷ đơn vị, tương ứng vốn điều lệ 13.972,1 tỷ đồng. Động thái này nằm trong lộ trình tăng vốn lên trên 20.000 tỷ đồng, tạo nền tảng để ngân hàng duy trì đà tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu kinh doanh lớn năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

(TBTCO) - ROX Living vừa nâng tỷ lệ sở hữu tại MSB lên trên 1% vốn điều lệ sau khi mua thành công gần 18,3 triệu cổ phiếu trong tổng số 100 triệu cổ phiếu đăng ký. Động thái này diễn ra khi cơ cấu cổ đông lớn của MSB có nhiều biến động, xuất hiện thêm một số tên tuổi mới.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Kim TT/AVPL 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 14,300 ▼100K 14,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 14,250 ▼100K 14,450 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 ▲150K 15,050 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 ▲150K 15,000 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 ▲150K 14,980 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
NL 99.90 13,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000 ▲50K
Trang sức 99.9 14,340 ▲100K 15,040 ▲100K
Trang sức 99.99 14,350 ▲100K 15,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,495 ▲1347K 15,152 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,495 ▲1347K 15,153 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,494 ▲15K 1,514 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,494 ▲15K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,474 ▲15K 1,499 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,416 ▲990K 148,416 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,086 ▲750K 112,586 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,592 ▲680K 102,092 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,098 ▲610K 91,598 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,805 ▼69662K 8,755 ▼78212K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,165 ▲417K 62,665 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cập nhật: 16/06/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18008 18282 18858
CAD 18233 18509 19126
CHF 32392 32775 33427
CNY 0 3848 3940
EUR 29812 30034 31112
GBP 34417 34808 35750
HKD 0 3226 3428
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19945 20227 20803
THB 723 786 840
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,976 30,000 31,360
JPY 159.79 160.08 169.33
GBP 34,647 34,741 35,866
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,449 18,508 19,143
CHF 32,696 32,798 33,695
SGD 20,083 20,145 20,895
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.03 16.72 18.15
THB 770.45 779.97 833.37
NZD 14,966 15,105 15,521
SEK - 2,750 2,841
DKK - 4,011 4,142
NOK - 2,709 2,799
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.53 - 6,829.07
TWD 752.89 - 909.37
SAR - 6,891.59 7,241.68
KWD - 83,413 88,542
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,423
EUR 29,919 30,039 31,227
GBP 34,647 34,786 35,804
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,539 32,670 33,586
JPY 160.04 160.68 168.50
AUD 18,242 18,315 18,908
SGD 20,149 20,230 20,816
THB 788 791 826
CAD 18,454 18,528 19,091
NZD 15,058 15,594
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26423
AUD 18201 18301 19232
CAD 18423 18523 19537
CHF 32649 32679 34262
CNY 3827.6 3852.6 3987.8
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29997 30027 31753
GBP 34721 34771 36531
HKD 0 3355 0
JPY 160.53 161.03 171.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20102 20232 20958
THB 0 750.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,115 26,165 26,423
USD20 26,115 26,165 26,423
USD1 23,907 26,165 26,423
AUD 18,268 18,368 19,472
EUR 30,156 30,156 31,565
CAD 18,376 18,476 19,783
SGD 20,186 20,336 20,896
JPY 161.03 162.53 167.09
GBP 34,632 34,982 36,149
XAU 14,798,000 0 15,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/06/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80