Đại hội đồng cổ đông VPBank: Tổng tài sản chuẩn bị cán mốc 1 triệu tỷ đồng, GPBank sắp "hồi sinh"

(TBTCO) - Năm 2025, VPBank kỳ vọng lợi nhuận trước thuế đạt 25.270 tỷ đồng, tăng 26% và vượt mốc đỉnh lịch sử; trong đó, các công ty con đóng góp tích cực, riêng GPBank dự kiến có lãi ngay trong năm nay. Một trong những dấu mốc đáng chú ý là tổng tài sản của VPBank sắp vượt 1 triệu tỷ đồng trong 1 - 2 tháng tới.
aa
Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới"

Chiều ngày 28/4 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank - mã Ck: VPB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng tiếp đà tăng 25%

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 của VPBank thảo luận và thông qua định hướng hoạt động, kế hoạch kinh doanh 2025, kế hoạch phân phối lợi nhuận 2024, các chủ trương đầu tư, góp vốn, mua lại, thành lập công ty con, hợp tác, liên doanh, đồng thời bầu cử Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030.

VPBank cũng dự kiến trình đại hội về phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, dự kiến sử dụng 3.967 tỷ đồng để chia cổ tức bằng tiền mặt, tương ứng tỷ lệ 5%. Ngoài ra, tại đại hội, ngân hàng dự kiến trình cổ đông phương án góp vốn thành lập công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời, ngân hàng cũng sẽ xin ý kiến Đại hội cổ đông về việc góp vốn, nhận chuyển nhượng phần vốn góp hoặc mua cổ phần để đưa một công ty quản lý quỹ trở thành công ty con của VPBank.

Phát biểu tại đại hội, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank đánh giá, nhiều cơ hội năm 2025 mở ra với ngành ngân hàng khi nền kinh tế phục hồi, với chủ trương thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao 8%.

Công ty con bứt tốc, lợi nhuận VPBank vượt đỉnh lịch sử

Năm 2025, VPBank kỳ vọng lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 25.270 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024 và vượt mức đỉnh cao năm 2022. Trong đó, ngân hàng mẹ đóng góp 22.219 tỷ đồng; FE Credit kỳ vọng đạt 1.126 tỷ đồng (tăng 120%); Chứng khoán VPBank (VPBankS) đóng góp 2.003 tỷ đồng (tăng 64%) và Bảo hiểm OPES đạt 636 tỷ đồng (tăng 34%).

Tuy nhiên, bên cạnh đó, ngân hàng cũng đối mặt với nhiều thách thức như nhu cầu thị trường chưa phục hồi bền vững, khu vực kinh tế tư nhân còn yếu, cùng với những rủi ro từ các chính sách vĩ mô toàn cầu, đặc biệt là tác động từ các chính sách thuế quan đối ứng.

Dù vậy, ban lãnh đạo VPBank tiến hành đánh giá toàn diện tình hình và vẫn kiên định theo đuổi các mục tiêu do Hội đồng Quản trị đề ra, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp ứng phó trong trường hợp tình hình diễn biến phức tạp hơn.

"Năm 2025, mục tiêu của VPBank là thúc đẩy tăng trưởng đồng bộ các phân khúc, với chiến lược phát triển ngân hàng đa năng, thay vì chỉ tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ. Mục tiêu tổng thể là đạt mức tăng trưởng 25%, ngân hàng sẽ cập nhật cơ hội thuận lợi trên thị trường trình ban lãnh đạo các kế hoạch hành động giữa năm phù hợp với biến động thị trường" - ông Vinh nói.

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Tổng tài sản chuẩn bị cán mốc 1 triệu tỷ đồng, GPBank sắp
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Ngân hàng định hướng tăng trưởng tín dụng hợp nhất khoảng 25%, nâng dư nợ lên 887.724 tỷ đồng (phụ thuộc hạn mức cấp từ Ngân hàng Nhà nước). Tổng tài sản hợp nhất dự kiến tăng 23% lên khoảng 1,133 triệu tỷ đồng. Cũng theo lãnh đạo VPBank, trong 1-2 tháng tới, tài sản của VPBank dự kiến sẽ vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, bởi đến tháng 3/2025, con số này đã đạt 994 nghìn tỷ đồng.

VPBank cũng đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ngân hàng riêng lẻ dưới 3% và triển khai chiến lược thu hồi nợ hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng danh mục tín dụng. Cũng theo ông Vinh, ban lãnh đạo cũng chủ động trích lập dự phòng rủi ro ở mức 17.000 tỷ đồng, tương đương mức thực hiện của năm trước. Điều này nhằm đảm bảo ngân hàng luôn duy trì hoạt động ổn định trong mọi điều kiện thị trường, tăng cường quản lý nợ để nâng cao hiệu suất, giữ đà tăng trưởng.

Chuyển mình với mô hình tập đoàn, GPBank dự kiến có lãi ngay năm 2025

Nhìn lại những dấu ấn năm vừa qua, theo Lãnh đạo VPBank, Ngân hàng đạt nhiều chỉ số quan trọng, trong đó nổi bật là doanh thu tăng hơn 20%, huy động vốn tăng 13,4%, lợi nhuận trước thuế tăng mạnh 85% so với năm 2023 do nền lợi nhuận thấp của năm trước.

Đại hội đồng cổ đông VPBank
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của VPBank. Ảnh: VPBank.

Về kiểm soát rủi ro, VPBank trong năm 2024 cũng tập trung quản lý chất lượng tài sản, đưa tỷ lệ nợ xấu xuống còn 2,47%, bất chấp những khó khăn phát sinh từ cơ cấu nợ bất động sản trong các năm trước, khi nhiều khách hàng là doanh nghiệp lớn gặp khó khăn về tiến độ triển khai dự án. Ban lãnh đạo cũng chủ động đẩy mạnh xử lý và tái cấu trúc nợ; đồng thời, tăng quy mô dự phòng, với số dư nợ dự phòng cao hơn gần 4.000 tỷ đồng so với kế hoạch, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để ứng phó với những trường hợp khó khăn phát sinh.

Năm 2024 cũng đánh dấu bước đầu triển khai mô hình tập đoàn tại VPBank, với mục tiêu tối ưu hóa hoạt động của các công ty con như FE Credit, Chứng khoán VPBankS, Bảo hiểm OPES, cùng với sự gia nhập gần đây của GPBank. Với sự hỗ trợ từ ngân hàng mẹ, FE Credit đã bước đầu phục hồi, tăng 40% doanh số giải ngân và duy trì được thị phần, kinh doanh có lãi trở lại. Trong khi đó, dù VPBankS và OPES chưa đạt được mục tiêu kế hoạch, nhưng vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực, đóng góp vào lợi nhuận tổng thể của tập đoàn gần 2.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, VPBank cũng đã củng cố hệ sinh thái khách hàng với gần 30 triệu khách hàng trong toàn hệ thống, trong đó riêng ngân hàng phục vụ 16 triệu khách hàng, khoảng 5 triệu khách hàng trẻ thông qua ngân hàng số Cake.

"Đối với GPBank, hiện chưa phải hợp nhất báo cáo tài chính. Ngân hàng sẽ xây dựng kế hoạch, chương trình giúp GPBank từ trạng thái lỗ liên tục thành năm đầu tiên có lãi là vào năm 2025" - Tổng Giám đốc VPBank nhấn mạnh.

Về đề án tái cơ cấu GPBank, cũng theo Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngô Chí Dũng, ban điều hành VPBank chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Hiện tại, VPBank nhận được danh sách nhân sự được Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn và cử cán bộ sang. "Chúng tôi tin tưởng sẽ tái cơ cấu GPBank thành công" - ông Dũng nhấn mạnh.

Lãnh đạo VPBank cũng chia sẻ thêm, trước thời điểm chuyển giao, GPBank ghi nhận mức lỗ bình quân mỗi năm khoảng 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, với các biện pháp tái cấu trúc mạnh mẽ, VPBank kỳ vọng trong năm nay, dù chỉ còn 8 tháng, GPBank sẽ đạt lợi nhuận khoảng 500 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BIDV (BIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 418 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.357,5 tỷ đồng, tăng 7,6%, với nhiều nghiệp vụ tăng trưởng hai chữ số. Cùng với đà mở rộng kinh doanh, BIC chú trọng chi trả bồi thường kịp thời khi rủi ro xảy ra, với tổng chi bồi thường gốc hơn 1.300 tỷ đồng.
Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

(TBTCO) - Ngày 29/10, Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”, tập trung bàn giải pháp đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.
PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.748,9 tỷ đồng, tăng 17,6%, hoàn thành 140,7% kế hoạch năm. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 10,2%, giúp Bảo hiểm PVI dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Danh mục đầu tư của PVI rất đa dạng gần 20.000 tỷ đồng, trong đó tiền gửi chiếm tỷ trọng chủ đạo.
Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 29/10: Vàng trong nước tăng, thế giới quanh 4.060 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.060 USD/ounce sau quyết định giữ lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng ở nhiều thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Nghệ An 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Thái Bình 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
Trang sức 99.9 13,300 ▼130K 13,900 ▼130K
Trang sức 99.99 13,310 ▼130K 13,910 ▼130K
Vàng 99.9 12,850 ▼50K
Vàng 99.99 13,040 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,384 ▼13K 14,142 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,384 ▼13K 14,143 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 ▼9K 1,383 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 ▼9K 1,384 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 ▼9K 1,373 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 ▼891K 135,941 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 ▲83934K 103,135 ▲92754K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 ▼612K 93,523 ▼612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 ▲66645K 83,911 ▲75465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 ▼525K 80,204 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 ▼43224K 5,741 ▼52044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cập nhật: 30/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18457
CAD 17942 18217 18833
CHF 30745 31122 31762
CNY 0 3835 3930
EUR 28248 28464 29538
GBP 33804 34193 35124
HKD 0 3157 3359
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14257 14839
SGD 19657 19938 20504
THB 681 744 797
USD (1,2) 25538 0 0
USD (5,10,20) 25576 0 0
USD (50,100) 25603 25617 25982
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25580 25610 26000
AUD 17803 17903 18828
CAD 18122 18222 19236
CHF 31022 31052 32634
CNY 3815 3840 3975.2
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28440 28470 30193
GBP 34059 34109 35867
HKD 0 3300 0
JPY 160.35 160.85 171.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14335 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19809 19939 20661
THB 0 709.6 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,508 25,628 25,920
USD20 25,478 25,628 25,920
USD1 25,458 25,628 25,920
AUD 17,703 17,853 19,020
EUR 28,208 28,308 29,858
CAD 18,068 18,168 19,473
SGD 19,888 20,038 20,592
JPY 160.67 162.17 167.7
GBP 33,972 34,122 35,478
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,796 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30