Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu “vượt đỉnh” trong năm 2025 với kế hoạch lợi nhuận hợp nhất kỷ lục 25.270 tỷ đồng. Ngân hàng đặt trọng tâm vào tăng trưởng đồng bộ toàn hệ sinh thái, mở rộng khách hàng FDI và tận dụng ưu đãi từ việc nhận chuyển giao GPBank, hướng đến tăng trưởng tín dụng cao 25%.
aa

HDBank và VPBank nhận chuyển giao DongA Bank và GPBank

Tăng vốn không ngừng nghỉ, Vietcombank giữ vững ngôi đầu ngành ngân hàng Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank - Mã Ck: VPB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 28/4 tại Hà Nội.

Bệ phóng từ SMBC và công ty con, hướng đến tăng trưởng tín dụng 25%

Đại hội sẽ thảo luận và dự kến thông qua định hướng hoạt động và kế hoạch 2025, kế hoạch phân phối lợi nhuận 2024; chủ trương đề xuất đầu tư, góp vốn, mua lại, thành lập công ty con, hợp tác, liên doanh; bầu cử thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát VPBank nhiệm kỳ 2025-2030…

Năm 2025, VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng đồng bộ trên toàn hệ sinh thái kinh doanh thông qua việc mở rộng quy mô khách hàng, tín dụng, huy động và doanh thu ở tất cả các mảng hoạt động cốt lõi. Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh khai thác tiềm năng từ phân khúc FDI, hướng đến phục vụ 1.000 khách hàng trong năm, tập trung vào phát triển huy động vốn và dịch vụ phi tín dụng. VPBank thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, chung tay cùng quốc gia hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

VPBank kỳ vọng lợi nhuận vượt 25.000 tỷ đồng

VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2025 đạt 25.270 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024 và cao hơn mức đỉnh cao thiết lập năm 2022 (21.220,1 tỷ đồng). Trong đó, ngân hàng mẹ đóng góp 22.219 tỷ đồng; FE Credit kỳ vọng đạt 1.126 tỷ đồng lợi nhuận (tăng trưởng 120%); Chứng khoán VPBank (VPBankS) đóng góp 2.003 tỷ đồng (tăng 64%) và Bảo hiểm OPES đạt 636 tỷ đồng (tăng 34%).

Nhờ khả năng tận dụng cơ sở khách hàng từ các công ty con và ngân hàng thương mại hàng đầu Nhật Bản SMBC, ngân hàng cũng hướng tới mức tăng trưởng tín dụng hợp nhất 25%, tương đương dư nợ cấp tín dụng đạt 887.724 tỷ đồng, tùy thuộc vào hạn mức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Tổng tài sản hợp nhất dự kiến tăng 23%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt khoảng 1.132.800 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá dự kiến tăng mạnh 34%, lên 742.311 tỷ đồng.

Về chất lượng tài sản, VPBank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ngân hàng riêng lẻ dưới 3%. VPBank triển khai chiến lược thu hồi và xử lý nợ theo hướng hiện đại, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng danh mục tín dụng và đầu tư.

Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận
Nguồn: VPBank.

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, VPBank không ngừng mở rộng hệ sinh thái tài chính thông qua việc phát triển các lĩnh vực hoạt động đa dạng và toàn diện, bao gồm: Công ty Chứng khoán VPBank, Công ty Bảo hiểm OPES và gần đây là tiếp nhận Ngân hàng GPBank theo phương án chuyển giao bắt buộc.

Việc nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém giúp VPBank nhận nhiều ưu đãi từ Chính phủ, bao gồm việc miễn hợp nhất báo cáo tài chính, miễn áp dụng các chỉ tiêu an toàn và cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng ưu đãi, cùng với quyền nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài lên 49%, từ đó, mang lại cho ngân hàng dư địa huy động vốn dài hạn. Ngân hàng cũng có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, cơ sở khách hàng, mạng lưới; duy trì GPBank như một ngân hàng con hoặc bán/chuyển nhượng GPBank cho nhà đầu tư mới sau khi kết thúc phương án chuyển giao bắt buộc.

Về cổ đông lớn nắm giữ trên 1% vốn của VPBank, theo danh sách ngân hàng công bố, Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) là cổ đông chiến lược nắm giữ 1,19 tỷ cổ phiếu, tương ứng hơn 15% vốn điều lệ; Công ty cổ phần Diera corp nắm giữ 4,4%... Các cổ đông cá nhân sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên gồm: Chủ tịch Ngô Chí Dũng (4,14%), bà Hoàng Anh Minh (4,13%), bà Vũ Thị Quyên (4,1%)...

Nợ xấu cải thiện, lợi nhuận khởi sắc

Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và kế hoạch năm 2025 của VPBank nêu rõ, đến cuối năm 2024, quy mô tín dụng hợp nhất của ngân hàng đạt 710 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với đầu năm, trong đó, tín dụng của ngân hàng mẹ tăng 19,4%, cao hơn mức trung bình ngành (15,08%).

Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Đồng hành cùng đối tác chiến lược Ngân hàng SMBC, VPBank mở rộng cơ hội hợp tác với khách hàng FDI, thu hút hơn 500 doanh nghiệp từ các tập đoàn đa quốc gia lớn đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Dư nợ phân khúc này tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với năm 2023. Lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 20.012 nghìn tỷ, bật tăng hơn 85% so với năm 2023, song hoàn thành 86% kế hoạch.

Lợi nhuận chưa đạt kỳ vọng

“Mặc dù kết quả lợi nhuận của ngân hàng mới hoàn thành 86% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố vĩ mô thị trường bán lẻ chưa phục hồi toàn. Tuy vậy, xét trên tổng thể, tỷ lệ tăng trưởng hợp nhất và kết quả của Công ty tài chính FE Credit cũng là con số đáng khích lệ, Hội đồng Quản trị ghi nhận những nỗ lực của toàn bộ các thành viên ban điều hành VPBank trong những nỗ lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh, xử lý những khó khăn từ giai đoạn khủng hoảng trước đây” - Chủ tịch VPBank đánh giá.

Trong bức tranh tổng thể của tập đoàn, các công ty con của VPBank cũng ghi nhận những dấu ấn.

Ở mảng tài chính tiêu dùng, FE Credit đạt kết quả tích cực sau quá trình tái cơ cấu toàn diện, với sự tham gia mạnh mẽ của VPBank và đối tác chiến lược SMBC. Năm 2024, dư nợ cấp tín dụng của FE Credit đạt hơn 62 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với đầu năm, trong khi doanh số giải ngân cả năm tăng 40% so với năm 2023.

Với mảng chứng khoán, dư nợ cho vay margin và ứng trước tại VPBankS đạt hơn 9,5 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2024, tăng 33% so với đầu năm.

Chất lượng tài sản của VPBank được cải thiện đáng kể trong năm 2024. Quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3-5) của VPBank đạt 29.070 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,2% so với cùng kỳ và tiếp tục duy trì ở ngưỡng cao trong vòng 3 năm trở lại đây. Trong khi nợ xấu nhóm 3 và 4 sụt giảm thì nợ xấu nhóm 5 tăng 40%, lên gần 6.200 tỷ đồng. Ngoài ra, số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) tính đến cuối năm 2024 còn gần 1.000 tỷ đồng.

Dù vậy, theo VPBank, tỷ lệ nợ xấu hợp nhất cũng ghi nhận sự cải thiện lớn từ mức 4,48% tại thời điểm cuối năm 2023 xuống còn 3,52% vào cuối năm 2024, phản ánh sự phục hồi tích cực tại FE Credit với tỷ lệ nợ xấu giảm liên tiếp trong ba quý và sự cải thiện mạnh mẽ chất lượng tài sản của ngân hàng mẹ. Tỷ lệ bao nợ xấu cuối năm 2024 cải thiện nhẹ, đạt 56,17%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BIDV (BIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 418 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.357,5 tỷ đồng, tăng 7,6%, với nhiều nghiệp vụ tăng trưởng hai chữ số. Cùng với đà mở rộng kinh doanh, BIC chú trọng chi trả bồi thường kịp thời khi rủi ro xảy ra, với tổng chi bồi thường gốc hơn 1.300 tỷ đồng.
Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

(TBTCO) - Ngày 29/10, Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”, tập trung bàn giải pháp đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.
PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.748,9 tỷ đồng, tăng 17,6%, hoàn thành 140,7% kế hoạch năm. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 10,2%, giúp Bảo hiểm PVI dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Danh mục đầu tư của PVI rất đa dạng gần 20.000 tỷ đồng, trong đó tiền gửi chiếm tỷ trọng chủ đạo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Nghệ An 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Thái Bình 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
Trang sức 99.9 13,300 ▼130K 13,900 ▼130K
Trang sức 99.99 13,310 ▼130K 13,910 ▼130K
Vàng 99.9 12,850 ▼50K
Vàng 99.99 13,040 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,384 ▼13K 14,142 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,384 ▼13K 14,143 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 ▼9K 1,383 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 ▼9K 1,384 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 ▼9K 1,373 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 ▼891K 135,941 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 ▲83934K 103,135 ▲92754K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 ▼612K 93,523 ▼612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 ▲66645K 83,911 ▲75465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 ▼525K 80,204 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 ▼43224K 5,741 ▼52044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cập nhật: 30/10/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18452
CAD 17955 18230 18843
CHF 30775 31152 31797
CNY 0 3836 3931
EUR 28274 28490 29568
GBP 33844 34233 35177
HKD 0 3158 3360
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14251 14838
SGD 19666 19947 20513
THB 681 744 798
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25985
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25580 25610 26000
AUD 17803 17903 18828
CAD 18122 18222 19236
CHF 31022 31052 32634
CNY 3815 3840 3975.2
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28440 28470 30193
GBP 34059 34109 35867
HKD 0 3300 0
JPY 160.35 160.85 171.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14335 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19809 19939 20661
THB 0 709.6 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/10/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30