Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu “vượt đỉnh” trong năm 2025 với kế hoạch lợi nhuận hợp nhất kỷ lục 25.270 tỷ đồng. Ngân hàng đặt trọng tâm vào tăng trưởng đồng bộ toàn hệ sinh thái, mở rộng khách hàng FDI và tận dụng ưu đãi từ việc nhận chuyển giao GPBank, hướng đến tăng trưởng tín dụng cao 25%.
aa

HDBank và VPBank nhận chuyển giao DongA Bank và GPBank

Tăng vốn không ngừng nghỉ, Vietcombank giữ vững ngôi đầu ngành ngân hàng Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank - Mã Ck: VPB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 28/4 tại Hà Nội.

Bệ phóng từ SMBC và công ty con, hướng đến tăng trưởng tín dụng 25%

Đại hội sẽ thảo luận và dự kến thông qua định hướng hoạt động và kế hoạch 2025, kế hoạch phân phối lợi nhuận 2024; chủ trương đề xuất đầu tư, góp vốn, mua lại, thành lập công ty con, hợp tác, liên doanh; bầu cử thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát VPBank nhiệm kỳ 2025-2030…

Năm 2025, VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng đồng bộ trên toàn hệ sinh thái kinh doanh thông qua việc mở rộng quy mô khách hàng, tín dụng, huy động và doanh thu ở tất cả các mảng hoạt động cốt lõi. Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh khai thác tiềm năng từ phân khúc FDI, hướng đến phục vụ 1.000 khách hàng trong năm, tập trung vào phát triển huy động vốn và dịch vụ phi tín dụng. VPBank thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, chung tay cùng quốc gia hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

VPBank kỳ vọng lợi nhuận vượt 25.000 tỷ đồng

VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2025 đạt 25.270 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024 và cao hơn mức đỉnh cao thiết lập năm 2022 (21.220,1 tỷ đồng). Trong đó, ngân hàng mẹ đóng góp 22.219 tỷ đồng; FE Credit kỳ vọng đạt 1.126 tỷ đồng lợi nhuận (tăng trưởng 120%); Chứng khoán VPBank (VPBankS) đóng góp 2.003 tỷ đồng (tăng 64%) và Bảo hiểm OPES đạt 636 tỷ đồng (tăng 34%).

Nhờ khả năng tận dụng cơ sở khách hàng từ các công ty con và ngân hàng thương mại hàng đầu Nhật Bản SMBC, ngân hàng cũng hướng tới mức tăng trưởng tín dụng hợp nhất 25%, tương đương dư nợ cấp tín dụng đạt 887.724 tỷ đồng, tùy thuộc vào hạn mức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Tổng tài sản hợp nhất dự kiến tăng 23%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt khoảng 1.132.800 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá dự kiến tăng mạnh 34%, lên 742.311 tỷ đồng.

Về chất lượng tài sản, VPBank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ngân hàng riêng lẻ dưới 3%. VPBank triển khai chiến lược thu hồi và xử lý nợ theo hướng hiện đại, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng danh mục tín dụng và đầu tư.

Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận
Nguồn: VPBank.

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, VPBank không ngừng mở rộng hệ sinh thái tài chính thông qua việc phát triển các lĩnh vực hoạt động đa dạng và toàn diện, bao gồm: Công ty Chứng khoán VPBank, Công ty Bảo hiểm OPES và gần đây là tiếp nhận Ngân hàng GPBank theo phương án chuyển giao bắt buộc.

Việc nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém giúp VPBank nhận nhiều ưu đãi từ Chính phủ, bao gồm việc miễn hợp nhất báo cáo tài chính, miễn áp dụng các chỉ tiêu an toàn và cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng ưu đãi, cùng với quyền nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài lên 49%, từ đó, mang lại cho ngân hàng dư địa huy động vốn dài hạn. Ngân hàng cũng có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, cơ sở khách hàng, mạng lưới; duy trì GPBank như một ngân hàng con hoặc bán/chuyển nhượng GPBank cho nhà đầu tư mới sau khi kết thúc phương án chuyển giao bắt buộc.

Về cổ đông lớn nắm giữ trên 1% vốn của VPBank, theo danh sách ngân hàng công bố, Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) là cổ đông chiến lược nắm giữ 1,19 tỷ cổ phiếu, tương ứng hơn 15% vốn điều lệ; Công ty cổ phần Diera corp nắm giữ 4,4%... Các cổ đông cá nhân sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên gồm: Chủ tịch Ngô Chí Dũng (4,14%), bà Hoàng Anh Minh (4,13%), bà Vũ Thị Quyên (4,1%)...

Nợ xấu cải thiện, lợi nhuận khởi sắc

Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và kế hoạch năm 2025 của VPBank nêu rõ, đến cuối năm 2024, quy mô tín dụng hợp nhất của ngân hàng đạt 710 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với đầu năm, trong đó, tín dụng của ngân hàng mẹ tăng 19,4%, cao hơn mức trung bình ngành (15,08%).

Toàn hệ sinh thái vào guồng tăng trưởng, VPBank tham vọng vượt đỉnh lợi nhuận
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Đồng hành cùng đối tác chiến lược Ngân hàng SMBC, VPBank mở rộng cơ hội hợp tác với khách hàng FDI, thu hút hơn 500 doanh nghiệp từ các tập đoàn đa quốc gia lớn đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Dư nợ phân khúc này tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với năm 2023. Lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 20.012 nghìn tỷ, bật tăng hơn 85% so với năm 2023, song hoàn thành 86% kế hoạch.

Lợi nhuận chưa đạt kỳ vọng

“Mặc dù kết quả lợi nhuận của ngân hàng mới hoàn thành 86% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố vĩ mô thị trường bán lẻ chưa phục hồi toàn. Tuy vậy, xét trên tổng thể, tỷ lệ tăng trưởng hợp nhất và kết quả của Công ty tài chính FE Credit cũng là con số đáng khích lệ, Hội đồng Quản trị ghi nhận những nỗ lực của toàn bộ các thành viên ban điều hành VPBank trong những nỗ lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh, xử lý những khó khăn từ giai đoạn khủng hoảng trước đây” - Chủ tịch VPBank đánh giá.

Trong bức tranh tổng thể của tập đoàn, các công ty con của VPBank cũng ghi nhận những dấu ấn.

Ở mảng tài chính tiêu dùng, FE Credit đạt kết quả tích cực sau quá trình tái cơ cấu toàn diện, với sự tham gia mạnh mẽ của VPBank và đối tác chiến lược SMBC. Năm 2024, dư nợ cấp tín dụng của FE Credit đạt hơn 62 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với đầu năm, trong khi doanh số giải ngân cả năm tăng 40% so với năm 2023.

Với mảng chứng khoán, dư nợ cho vay margin và ứng trước tại VPBankS đạt hơn 9,5 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2024, tăng 33% so với đầu năm.

Chất lượng tài sản của VPBank được cải thiện đáng kể trong năm 2024. Quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3-5) của VPBank đạt 29.070 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,2% so với cùng kỳ và tiếp tục duy trì ở ngưỡng cao trong vòng 3 năm trở lại đây. Trong khi nợ xấu nhóm 3 và 4 sụt giảm thì nợ xấu nhóm 5 tăng 40%, lên gần 6.200 tỷ đồng. Ngoài ra, số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) tính đến cuối năm 2024 còn gần 1.000 tỷ đồng.

Dù vậy, theo VPBank, tỷ lệ nợ xấu hợp nhất cũng ghi nhận sự cải thiện lớn từ mức 4,48% tại thời điểm cuối năm 2023 xuống còn 3,52% vào cuối năm 2024, phản ánh sự phục hồi tích cực tại FE Credit với tỷ lệ nợ xấu giảm liên tiếp trong ba quý và sự cải thiện mạnh mẽ chất lượng tài sản của ngân hàng mẹ. Tỷ lệ bao nợ xấu cuối năm 2024 cải thiện nhẹ, đạt 56,17%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80