Eximbank thông qua mục tiêu lợi nhuận gần 5.200 tỷ đồng, bầu Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ mới

(TBTCO) - Năm 2025, Eximbank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 10,7% lên 265.500 tỷ đồng, huy động vốn 206.000 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm trước. Dư nợ cấp tín dụng dự kiến tăng 16,2% lên mức 195.500 tỷ đồng. Mục tiêu lợi nhuận trước thuế vượt 5.188 tỷ đồng, tăng trưởng 23,8% so với năm 2024.
aa

Ngày 29/4/2025, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã Ck: EIB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2025.

Eximbank thông qua mục tiêu lợi nhuận gần 5.200 tỷ đồng, bầu Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ mới
Toàn cảnh ĐHĐCĐ Eximbank diễn ra sáng ngày 29/4.

Năm 2024 kết quả kinh doanh khởi sắc, lập kỷ lục lợi nhuận

Theo báo cáo của Eximbank, năm 2024, lợi nhuận ngân hàng lần đầu vượt mức 4.188 tỷ đồng, tăng trưởng 54% so với năm trước. Đây là mức lợi nhuận cao kỷ lục của ngân hàng sau hơn 3 thập kỷ hoạt động.

Tại thời điểm cuối năm 2024, tổng tài sản của Eximbank tăng 19% đạt mức 239.768 tỷ đồng, huy động vốn đạt 178.312 tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm trước. Dư nợ cấp tín dụng tăng trưởng cao nhất trong nửa thập kỷ (so với 2019) khi đạt mốc 168.230 tỷ đồng, tăng 27.706 tỷ đồng, tương ứng tăng trưởng 19,72% so với đầu năm.

Eximbank thông qua mục tiêu lợi nhuận gần 5.200 tỷ đồng, bầu Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ mới
Tổng tài sản, dư nợ tín dụng, lợi nhuận trước thuế của Eximbank từ 2020 đến nay.

Bức tranh tài chính của Eximbank có một số điểm nổi bật, trong đó tổng thu nhập hoạt động của Eximbank lần đầu chạm ngưỡng 8.558 tỷ đồng, tăng trưởng 31% so với năm trước. Quy mô CASA bình quân tăng trưởng 24,8% so với năm 2023. Thay vì tăng lãi suất đầu ra, ngân hàng đã chủ động cơ cấu lại cấu trúc tài sản và nguồn vốn, từ đó kiểm soát được chi phí vốn hiệu quả (COF), kết quả NIM đã tăng lên 2,81%. Chất lượng nợ xấu của Eximbank được cải thiện, trong đó tỷ lệ nợ xấu giảm về mức 2,53%. Nợ nhóm 2 được duy trì ổn định quanh mức 1%.

Eximbank đã kiểm soát tốt chi phí hoạt động, tỷ lệ CIR giảm mạnh xuống 39,73% so với mức hơn 47,92% của năm 2023.

Thông qua kế hoạch kinh doanh 2025

Về kế hoạch kinh doanh năm 2025, Eximbank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 10,7% lên 265.500 tỷ đồng, huy động vốn 206.000 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm trước. Dư nợ cấp tín dụng dự kiến tăng 16,2% lên mức 195.500 tỷ đồng. Mục tiêu lợi nhuận trước thuế vượt 5.188 tỷ đồng, tăng trưởng 23,8% so với năm 2024.

Lãnh đạo Eximbank nhấn mạnh, nhiệm vụ đặc biệt năm 2025 và những năm tới là phát triển nền tảng khách hàng, định vị phân khúc mục tiêu, nâng cao hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh. Eximbank sẽ tái cấu trúc tài chính và danh mục tài sản, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, phát huy mô hình xử lý nợ tập trung. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện các chỉ số sinh lời, tăng cường năng lực tài chính và khả năng ứng phó rủi ro.

Trong quá trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, Eximbank hướng tới kiện toàn HĐQT chất lượng, thu hút các ứng viên đa dạng chuyên môn, kinh nghiệm, tâm huyết, để có thể đưa ra chiến lược phát triển và quản trị hiệu quả ngân hàng trong giai đoạn mới, hướng đến một tổ chức minh bạch, hiệu quả, an toàn và bền vững.

Về xây dựng chiến lược trong 5 năm tới, Lãnh đạo ngân hàng cho biết, đây là điều bắt buộc và cần phải làm bài bản. Eximbank một mặt tự đánh giá thế mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức và kết hợp với các đơn vị tư vấn chiến lược quốc tế để tạo được chiến lược tốt nhất. Từ đó, hướng đến xây dựng một ngân hàng bản sắc, minh bạch, hiệu quả, tạo giá trị cho khách hàng, phụng sự cho cộng đồng và đem lại lợi ích lớn nhất đến cổ đông.

Ông Nguyễn Hoàng Hải - Quyền Tổng Giám đốc Ngân hàng Eximbank chia sẻ đại hội: “Quý cổ đông có thể tin tưởng vào chất lượng tài sản của ngân hàng. Sắp tới, chúng tôi sẽ thực hiện tinh gọn, tối ưu và nâng cao hiệu quả hoạt động, mang đến lợi ích cho khách hàng, cổ đông và cán bộ nhân viên. Đội ngũ sẽ đồng lòng hành động ngay để bắt kịp xu hướng thị trường, làm mọi thứ có kiểm soát và thực chất”.

Người đứng đầu Ban Điều hành ngân hàng nhấn mạnh, Eximbank sẽ hướng tới xây dựng một ngân hàng phát triển bền vững, ổn định cơ cấu quản trị, đặc biệt sẽ có một thay đổi rất lớn về bộ mặt, hình ảnh, vị thế của ngân hàng trên thị trường.

Về vấn đề không trả cổ tức năm 2025, Chủ tịch Hội đồng Quản trị (HĐQT) Eximbank Nguyễn Cảnh Anh cho biết rất thấu hiểu nguyện vọng của cổ đông về vấn đề cổ tức. Tuy nhiên, HĐQT đánh giá năm 2025 còn nhiều bất ổn trên bình diện quốc tế cũng như trong nước. Theo chiến lược dài hạn của Eximbank, ngân hàng đang chuẩn bị nhiều nguồn lực về quản trị rủi ro hướng tới áp dụng tiêu chuẩn Basel III, cũng như đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao từ phía Ngân hàng Nhà nước, Eximbank đã quyết định không trả cổ tức năm 2025.

“Đây không phải là điều gì tiêu cực mà là quyết định mang tính chủ động của HĐQT góp phần tạo giá trị vững chắc cho ngân hàng, ứng phó trước những biến động của nền kinh tế. Nguồn vốn này cũng sẽ được tăng cường thêm cho chuyển đổi số, tăng hiệu quả ngân hàng qua đó làm tăng giá trị cho cổ đông” - Chủ tịch HĐQT Eximbank cho hay.

Bầu thành viên Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ mới

Vấn đề nhân sự là điều cổ đông đặc biệt quan tâm tại kỳ ĐHĐCĐ thường niên năm nay của Eximbank. Theo đó, với sự đồng thuận và nhất trí cao, Đại hội đã bầu ra HĐQT và Ban Kiểm soát (BKS) nhiệm kỳ mới (2025 - 2030).

Kết quả, 5 thành viên HĐQT nhiệm kỳ mới gồm: Ông Nguyễn Cảnh Anh, bà Đỗ Hà Phương, ông Phạm Tuấn Anh và 2 thành viên HĐQT độc lập là ông Hoàng Thế Hưng và bà Phạm Thị Huyền Trang.

Cùng với đó, cơ cấu HĐQT nhiệm kỳ 2025-2030 đề cử có hai thành viên độc lập nhằm đảm bảo yêu cầu mới của Luật Các tổ chức tín dụng 2024, đảm bảo hoạt động của HĐQT độc lập, khách quan và minh bạch.

Đại hội cũng thống nhất bầu ra 5 thành viên BKS nhiệm kỳ này gồm: bà Doãn Hồ Lan, ông Lâm Nguyễn Thiện Nhơn, ông Nguyễn Trí Trung, bà Trần Thị Minh Lý và ông Hoàng Tâm Châu.

Eximbank thông qua mục tiêu lợi nhuận gần 5.200 tỷ đồng, bầu Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ mới
HĐQT và BKS nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Đại hội cũng thông qua quy định tổng mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại Eximbank không vượt quá 6% nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đồng thời sửa đổi, bổ sung điều lệ Eximbank; thông qua việc chấm dứt chủ trương đầu tư xây dựng Trụ sở chính của Eximbank tại TP. Hồ Chí Minh… cùng các nội dung quan trọng khác.

Với sự đồng thuận và nhất trí lên tới 99%, Đại hội đã thông qua toàn bộ các báo cáo, tờ trình và nhiều nội dung quan trọng./.

Hải Băng

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80