Đo "sức nóng" giá vàng và cảnh báo cho nhà đầu tư lướt sóng

Chí Tín
(TBTCO) - Giá vàng vừa bước vào nhịp biến động tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Theo giới quan sát, việc tăng giá vàng cũng nằm trong bối cảnh chung của giá thế giới, đồng thời có sự ảnh hưởng của lãi suất giảm mạnh gần đây. Tuy nhiên, việc lướt sóng vàng cũng ẩn chứa khá nhiều rủi ro nên nhà đầu tư cần hết sức thận trọng.
aa
Đo "sức nóng" giá vàng và cảnh báo cho nhà đầu tư lướt sóng

Những yếu tố từ bên ngoài

Trong tuần cuối cùng của tháng 11, giá vàng thế giới ghi nhận xu hướng tăng liên tục mặc dù đã có một giai đoạn tăng khá ấn tượng trước đó. Cụ thể hôm 27/11, giá vàng giao ngay chỉ ở mức 2.004,4 USD/ounce, nhưng tăng đều đặn trong các ngày sau đó và có lúc đã chạm mốc 2.044 USD/ounce. Tại thời điểm sáng ngày 1/12 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới đã có điều chỉnh giảm chút ít, nhưng vẫn ở mặt bằng khá cao với mức 2.042 USD/ounce.

Hiện tại, diễn biến tình hình kinh tế chính trị trên thế giới có khá nhiều động thái có thể tác động trái ngược nhau lên giá vàng. Thông thường theo quy luật, kỳ vọng kết thúc các xung đột quân sự dễ dẫn đến ảnh hưởng làm giảm nhu cầu tích lũy vàng (để phòng vệ rủi ro), qua đó có thể dễ làm giá vàng giảm.

Tuy nhiên, thực tế lệnh ngừng bắn giữa Israel - Hamas diễn ra cũng không làm cho thị trường vàng kém sức hút mà giá vàng vẫn tăng trong những ngày qua.

Mặc dù vậy, thị trường tài chính cũng đối diện với nhiều yếu tố khác có thể tác động lên giá vàng. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh USD vẫn đi vào trạng thái khá yếu có thể coi là một trong những yếu tố làm cho vàng trở nên có giá trị hơn trong sự so sánh với đồng USD bởi thị trường vàng quốc tế thường niêm yết theo đồng tiền này.

Ngoài ra, tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt cũng khiến cho giới đầu tư kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ ngừng chuỗi tăng lãi suất kéo dài suốt 2 năm qua và thậm chí có thể xem xét giảm lãi suất vào đầu hoặc giữa năm 2024.

Theo đó, lãi suất tại Mỹ chuyển sang chu kỳ giảm thì đó sẽ là yếu tố tạo sự chuyển dịch dòng vốn từ các công cụ tài chính có lãi suất cố định sang các kênh đầu tư khác, thông thường là chứng khoán và vàng.

Số liệu Bộ Lao động Mỹ công bố hôm 14/11 cho thấy CPI của Mỹ tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ này giảm so với 3,7% tháng 9 và chậm hơn dự báo của các nhà kinh tế học. Còn so với tháng trước đó, CPI không tăng.

Trên trang Kitco, một số chuyên gia tài chính dự báo vàng có triển vọng tích cực trong năm 2024. Tuy nhiên, cũng có quan điểm phân tích cho rằng mặc dù lạm phát tại Mỹ đã hạ nhiệt, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức kỳ vọng 2% nên khả năng FED sẽ nới lỏng tiền tệ cũng sẽ chưa thể diễn ra sớm.

Truyền nhiệt tới thị trường trong nước

Sức nóng của thị trường vàng thế giới cũng đã truyền nhiệt sang thị trường vàng trong nước, với xu hướng tăng giá ấn tượng và ghi nhận kỷ lục cao nhất từ trước đến nay, khi vàng miếng SJC 9999 bán ra đã có thời điểm vượt mốc lịch sử 74 triệu đồng/lượng.

Cuối tuần, giá vàng tuy đã có phần hạ nhiệt đôi chút, nhưng mặt bằng giá vẫn rất cao, sáng ngày 1/12, giá vàng miếng SJC 9999 mua vào/bán ra là 72,4/73,6 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn SJC 9999 là 61,25/63,25 triệu đồng/lượng.

Ngoài yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài, thị trường vàng trong nước còn đang có những yếu tố thuận lợi hơn so với quốc tế. Cụ thể tại thị trường quốc tế, FED tuy đang tạm dừng tăng lãi suất, nhưng vẫn treo lãi suất ở mặt bằng cao và việc giảm lãi suất sẽ diễn ra khi nào cũng vẫn chỉ dựa trên dự đoán với các yếu tố không hoàn toàn chắc chắn.

Đo "sức nóng" giá vàng và cảnh báo cho nhà đầu tư lướt sóng
Sức nóng của thị trường vàng thế giới cũng đã truyền nhiệt sang thị trường vàng trong nước. Ảnh: TL

Trong khi đó, lãi suất tại thị trường Việt Nam vẫn liên tục giảm trong thời gian vừa qua và hiện tại lãi suất huy động đã về thấp hơn cả lãi suất thời điểm trước dịch Covid-19. Lãi suất kỳ hạn 1 năm tại Vietcombank hiện chỉ còn 4,8%/năm. Trong khi đó, thị trường bất động sản vẫn còn đang đối diện nhiều rủi ro, trong khi tình hình kinh doanh chung của doanh nghiệp vẫn chưa hoàn toàn thuận lợi để tạo sức hút dòng tiền vào cổ phiếu của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh này, vàng trở thành kênh đầu tư còn lại có thể được các nhà đầu tư nghĩ đến. Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, vàng hiện đang là một kênh trú ẩn an toàn và hấp dẫn tại thời điểm này.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư cũng cần hết sức cẩn trọng, do giá vàng có thể biến động nhanh chóng trong thời gian ngắn. Giai đoạn này, các nhà đầu tư phải theo dõi diễn biến thị trường vàng liên tục, thậm chí là hàng giờ để kịp thời nắm bắt thị trường.

Trong khi đó, ông Huỳnh Trung Khánh - Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, cho rằng vàng có thể có yếu tố để tăng giá, nhưng ông Khánh cũng khuyến cáo người dân cần thận trọng khi ra quyết định mua hay bán vàng vì mua bán vàng để lướt sóng sẽ rất rủi ro.

Thực tế động thái niêm yết giá của các công ty vàng thời gian qua cho thấy, tại thời điểm giá vàng ổn định, chênh lệch giá mua/giá vàng vàng SJC 9999 thường ở mức 1 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vào thời điểm giá vàng biến động mạnh như những ngày gần đây, các công ty vàng đã giãn rộng chênh lệnh giá mua/bán ra, ví dụ với vàng SJC 9999 là khoảng 1,2 đến 1,22 triệu đồng/lượng.

Điều này cho thấy chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nếu có nhu cầu mua bán ngắn hạn cũng đã tăng lên so với trước đây. Do đó với tính chất này, ngay cả với một số thời điểm dù giá vàng tăng - nhưng không tăng nhiều hơn mức chênh lệch mua vào/bán ra - thì nhà đầu tư cũng không có lãi nếu lướt sóng ngắn hạn.

Đo "sức nóng" giá vàng và cảnh báo cho nhà đầu tư lướt sóng

"Vàng hiện đang là một kênh trú ẩn an toàn và hấp dẫn tại thời điểm này. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cũng cần hết sức cẩn trọng, do giá vàng có thể biến động nhanh chóng trong thời gian ngắn. Giai đoạn này, các nhà đầu tư phải theo dõi diễn biến thị trường vàng liên tục, thậm chí là hàng giờ để kịp thời nắm bắt thị trường".

Ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Kim TT/AVPL 17,020 ▼90K 17,320 ▼140K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 ▼100K 17,300 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲250K 16,100 ▲250K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲250K 16,050 ▲250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 ▲200K 17,150 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 ▲200K 17,100 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 ▲200K 17,080 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Hà Nội - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Miền Tây - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Miếng SJC Nghệ An 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Miếng SJC Thái Bình 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
NL 99.90 15,570 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▼100K
Trang sức 99.9 16,480 ▼160K 17,180 ▼160K
Trang sức 99.99 16,490 ▼160K 17,190 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,701 ▼14K 17,312 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,701 ▼14K 17,313 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▼17K 1,726 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▼17K 1,727 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▼17K 1,711 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▼1683K 169,406 ▼1683K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▼1275K 128,488 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼98005K 11,651 ▼106015K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▼1038K 104,531 ▼1038K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▼991K 99,911 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▼709K 71,506 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Cập nhật: 06/04/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18559
CAD 18384 18661 19278
CHF 32356 32739 33382
CNY 0 3470 3830
EUR 29784 30056 31084
GBP 34085 34475 35406
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14753 15340
SGD 19969 20252 20777
THB 726 789 842
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 29,921 29,945 31,183
JPY 161.04 161.33 170.01
GBP 34,279 34,372 35,342
AUD 17,911 17,976 18,542
CAD 18,594 18,654 19,224
CHF 32,590 32,691 33,448
SGD 20,106 20,169 20,839
CNY - 3,765 3,884
HKD 3,303 3,313 3,430
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.69 782.23 832.35
NZD 14,733 14,870 15,219
SEK - 2,746 2,826
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,658 2,735
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,120.28 - 6,866.72
TWD 744.75 - 896.66
SAR - 6,916.03 7,240.79
KWD - 83,758 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 29,746 29,865 31,038
GBP 34,127 34,264 35,261
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,283 32,413 33,322
JPY 161.08 161.73 168.99
AUD 17,806 17,878 18,462
SGD 20,102 20,183 20,758
THB 786 789 823
CAD 18,539 18,613 19,172
NZD 14,742 15,268
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26361
AUD 17890 17990 18918
CAD 18570 18670 19685
CHF 32607 32637 34219
CNY 3766.3 3791.3 3926.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29973 30003 31731
GBP 34390 34440 36193
HKD 0 3355 0
JPY 161.68 162.18 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20136 20266 20987
THB 0 755.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17010000 17010000 17310000
SBJ 16000000 16000000 17310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,361
USD20 26,167 26,217 26,361
USD1 26,167 26,217 26,361
AUD 17,880 17,980 19,089
EUR 30,038 30,038 31,451
CAD 18,493 18,593 19,898
SGD 20,169 20,319 21,335
JPY 162 163.5 168.05
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,677 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/04/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80