Dự báo sức bật tín dụng vượt trội đến từ các ngân hàng cho vay doanh nghiệp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Với sức bật khả quan ngay đầu năm, giới phân tích cho rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng sẽ tăng mạnh trong năm 2025. Các ngân hàng có lợi thế cạnh tranh trong mảng cho vay doanh nghiệp như: VietinBank, MB, Techcombank... dự báo tăng trưởng vượt trội so với toàn ngành.
aa
Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các lĩnh vực ưu tiên vốn tín dụng, tạo đà tăng GDP trên 8%

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tính đến đầu tháng 2/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 0,19% so với mức giảm 0,6% trong cùng kỳ năm 2024. Điều này phản ánh nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh hơn so với cùng kỳ năm trước và tạo điều kiện thuận lợi từ đầu năm cho mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt 16% như mục tiêu đề ra của NHNN.

Ngân hàng tăng tốc từ đầu năm

Một tín hiệu mới cũng giúp tăng tốc tín dụng, doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn, đó là ngay từ đầu năm, khi giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trên toàn hệ thống, nhà điều hành cũng nhắc đến việc xem xét xóa bỏ hạn mức tín dụng.

Trước đó, vào đầu năm 2024, NHNN đã xóa bỏ cơ chế hạn mức tín dụng đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Đây sẽ là bước đi tích cực hướng tới quá trình chuyển đổi sang hệ thống kiểm soát tín dụng dựa trên rủi ro.

Dự báo sức bật tín dụng vượt trội đến từ các ngân hàng cho vay doanh nghiệp
Nhiều ngân hàng triển khai từ sớm các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu.

Nhiều ngân hàng hưởng lợi nhờ xóa bỏ hạn mức tín dụng

"Xét đến đặc điểm hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, bao gồm việc phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng về vốn và rủi ro tỷ lệ hình thành nợ xấu gia tăng, có thể sẽ cần một khoảng thời gian để NHNN xóa bỏ hoàn toàn hạn mức tín dụng. Nếu được thực hiện thì các ngân hàng có cơ sở vốn vững chắc, hệ sinh thái tốt và lợi thế về chi phí huy động vốn, về mặt lý thuyết, sẽ được hưởng lợi từ sự thay đổi này" - Chứng khoán Vietcap nhận định.

Ngay khi được giao chỉ tiêu từ đầu năm, Agribank đã sớm triển khai, xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2025, với mục tiêu dư nợ tăng thêm khoảng 200 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 13%.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo Agribank cho biết, ngoài đối tượng "tam nông" truyền thống, ngân hàng tập trung đầu tư vào các dự án trọng điểm như: đầu tư phát triển hạ tầng sân bay, cảng biển, đường bộ, đường sắt; các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, cho vay lĩnh vực lâm thủy sản...

"Agribank triển khai sớm 09 chương trình tín dụng quy mô trên 350 nghìn tỷ với lãi suất cho vay thấp hơn từ 1-2% so với lãi suất thông thường để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng có hiệu quả" - lãnh đạo Agribank nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Agribank, ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, hợp lý, tạo điều kiện hỗ trợ khách hàng khôi phục, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời chủ động tiết giảm chi phí hoạt động tạo cơ sở để giảm lãi suất cho vay, tạo động lực để tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng vượt trội nhờ cho vay doanh nghiệp

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới đây, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì ở mức mạnh trong năm 2025. Động lực thúc đẩy nhiều đến từ mảng cho vay doanh nghiệp cũng như các ngân hàng có lợi thế cạnh tranh trong mảng cho vay doanh nghiệp và huy động vốn có vị thế tốt để nắm bắt các cơ hội tăng trưởng như: nhóm ngân hàng quốc doanh, VPBank, MB và Techcombank.

Theo Chứng khoán Vietcap, một số ngân hàng báo cáo tăng trưởng tín dụng vượt trội, bao gồm HDBank (27,3%), MB (24,7%), Techcombank (21,7%), LPBank (20,4%) và ACB (19,1%), hầu hết đều có lợi thế cạnh tranh trong mảng cho vay doanh nghiệp, hoặc chi phí vốn thấp.

Trước đó, năm 2024, tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trên toàn hệ thống được thúc đẩy bởi mảng cho vay doanh nghiệp và vượt kỳ vọng của nhóm phân tích.

Nhìn lại diễn biến năm vừa qua, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống tăng tốc từ quý III/2024 và tăng tốc mạnh hơn trong quý IV/2024 được thúc đẩy bởi những nỗ lực duy trì môi trường lãi suất thấp của NHNN và nền kinh tế tiếp tục phục hồi.

"Mảng cho vay doanh nghiệp là động lực tăng trưởng chính, trong khi mảng cho vay bán lẻ cho thấy sự cải thiện khiêm tốn so với cùng kỳ" - Chứng khoán Vietcap nhận định.

Dự báo sức bật tín dụng vượt trội đến từ các ngân hàng cho vay doanh nghiệp
Dự báo sức bật tín dụng vượt trội đến từ các ngân hàng cho vay doanh nghiệp. Ảnh tư liệu.

Cùng với đó, phát hành trái phiếu doanh nghiệp do các ngân hàng trong danh sách theo dõi tăng 5,9% so với quý trước, chủ yếu do số dư trái phiếu doanh nghiệp của Techcombank tăng 54,1%. Mức tăng này là do hoạt động bảo lãnh phát hành và phân phối của Công ty chứng khoán TCBS, trong khi số dư trái phiếu doanh nghiệp của ngân hàng mẹ gần như đi ngang.

Phân tích tiềm năng tăng trưởng tín dụng của các nhà băng, theo phân tích của Chứng khoán Vietcap, VietinBank ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2024 đạt 25,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,5% cùng kỳ do chi phí dự phòng thấp hơn dự kiến, thu nhập từ thu hồi nợ xấu đã xử lý tăng mạnh và tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ năm 2024 của VietinBank là 16,8%, vượt dự báo trong khi NIM (biên lãi ròng) được kiểm soát tốt.

Nhóm phân tích cho rằng, tăng trưởng tín dụng của VietinBank sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ việc đẩy mạnh chi tiêu tài khóa với nhiều tiềm năng trong năm 2025.

Với MB, theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Mirae Asset, trong năm 2024, tăng trưởng tín dụng của MB đạt 24,8%, đứng thứ hai trong nhóm các ngân hàng theo dõi, chỉ sau HDBank. Danh mục cho vay đạt 765.048 tỷ đồng, tăng 27,6% cùng kỳ.

"Trong khi đó, mảng cho vay cá nhân chiếm 42,7% tổng dư nợ, giảm 250 điểm cơ bản so với năm 2023. Dù doanh số cho vay cá nhân vẫn tăng trưởng 20,2% so với cùng kỳ trong năm 2024, tỷ trọng của mảng này trong tổng danh mục đã liên tục giảm kể từ quý I/2022 do thị trường bán lẻ gặp khó khăn" - nhóm phân tích Mirae Asset nhìn nhận.

Trong khi đó, các mảng cho vay doanh nghiệp tăng tỷ trọng so với năm 2023 như: bán buôn - bán lẻ phương tiện đạt 28,7% (tăng 160 điểm cơ bản); vận tải kho bãi chiếm tỷ trọng 3,3% (tăng 70 điểm cơ bản); bất động sản 8,26% (tăng 117 điểm cơ bản). Đối với năm 2025, MB dự kiến dành ít nhất 50% hạn mức tăng trưởng tín dụng cho phân khúc bán lẻ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực sản xuất./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80