Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dự báo gần 2,5 triệu tỷ đồng vốn được bơm vào nền kinh tế năm 2025. Tín dụng tiếp tục được nắn dòng, hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế, giúp duy trì đà tăng khả quan như năm vừa qua.
aa
Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm
Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Ảnh tư liệu

Đổi mới cơ chế điều hành, nhà băng đẩy mạnh cho vay từ đầu năm

Trao đổi với báo giới về mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2025, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, căn cứ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế Quốc hội đặt ra từ 6,5 - 7%, phấn đấu khoảng 7 - 7,5%, cũng như Chính phủ đặt ra mức phấn đấu trên 8%, ngành ngân hàng dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống sẽ tăng cao hơn năm 2024, góp phần đạt mục tiêu đặt ra về tăng trưởng GDP.

Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ưu đãi lãi suất, kích cầu tín dụng từ đầu năm

"Tùy vào đối tượng, thời hạn vay, quy mô và tính toán hài hòa lợi ích của các khách hàng mang lại khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác, Agribank giảm lãi suất tối đa 1,8%, tương ứng giảm 1,2 - 1,8% so với lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn. Với khách hàng cá nhân, Agribank đang triển khai 5 chương trình cho vay, với chính sách ưu đãi gồm: cho vay tiêu dùng, cho vay phát triển sản phẩm OCOP “Mỗi xã một sản phẩm”, cho vay tín dụng xanh". Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank.

Ông Tú cũng nhấn mạnh, cơ chế giao tăng trưởng tín dụng năm 2025 tiếp tục thông thoáng hơn năm 2024. Các ngân hàng tự xác định tốc độ tăng trưởng, cho vay và đáp ứng nhu cầu vốn song vẫn phải đảm bảo an toàn tài chính. Trước đó, năm 2024, NHNN 2 lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hướng dẫn các ngân hàng tự tính, tự điều chỉnh hạn mức tín dụng dựa trên nhu cầu vốn một cách hợp lý.

Đây cũng cũng là năm thứ hai NHNN giao toàn bộ chỉ tiêu tín dụng cho các ngân hàng thương mại ngay từ đầu năm, với những cơ chế mới để các ngân hàng chủ động kế hoạch. Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Tuy nhiên, con số này sẽ được linh hoạt điều chỉnh, dựa trên điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả năng hấp thụ vốn, nhu cầu đầu tư cho các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, lĩnh vực ưu tiên và những lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm vừa qua, một số tổ chức tín dụng thậm chí được chủ động tăng trưởng tín dụng gồm: Ngân hàng Hợp tác xã, nhóm ngân hàng liên doanh và một số tổ chức tín dụng thuộc nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, nhóm công ty tài chính, nhóm công ty cho thuê tài chính.

Theo Phó Thống đốc, NHNN cũng đang nghiên cứu những biện pháp phù hợp hơn theo cơ chế thị trường, tạo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại nhưng vẫn phải đảm bảo được hai mục tiêu. Một là, kiểm soát lượng tín dụng cung ứng tăng thêm, đảm bảo kiểm soát lạm phát. Hai là, tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý, trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống, tăng cường sự lành mạnh và phát triển các ngân hàng. Với những ngân hàng đang dồn vốn trong những lĩnh vực có nguy cơ, rủi ro, NHNN sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn.

Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, sau khi nhận được văn bản của NHNN về cách tính chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, ngân hàng dự kiến mức tăng trưởng tín dụng 13%. Với quy mô dư nợ của Agribank hiện hơn 1,7 triệu tỷ đồng, Agribank sẽ tăng khoảng 230 nghìn tỷ đồng trong năm 2025.

Dồn vốn vào những ngành kinh tế trọng điểm

Điều hành tăng trưởng tín dụng là điểm nổi bật trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, tăng 15,08%, đạt mục tiêu đề ra (15%). Theo tính toán của NHNN, hệ thống ngân hàng bơm thêm 2,1 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế. Đây là con số không nhỏ so quy mô nền kinh tế, cho thấy tỷ trọng vốn tín dụng đưa vào nền kinh tế rất cao, doanh số cho vay khoảng 23 triệu tỷ đồng trong năm 2024, dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng (cuối năm 2023 là 13,6 triệu tỷ đồng).

Một tín hiệu đáng mừng là tín dụng được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Công tác cấp tín dụng đối với khách hàng theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng tín dụng.

Về cơ cấu tín dụng, năm 2024, thông tin từ NHNN cho thấy có những bước chuyển biến tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong đó, có một số ngành kinh tế trọng điểm tăng cao hơn so với mức tăng chung toàn hệ thống hoặc tăng cao hơn so với cùng kỳ.

Tính đến cuối quý III/2024, tín dụng với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,52% so với cuối năm 2023, chiếm tỷ trọng 12,96% (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,25%); ngành xây dựng tăng 5,46% (cùng kỳ tăng 1,74%); ngành nông, lâm, thủy sản tăng 4,92% (cùng kỳ tăng 2,72%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,55% (cùng kỳ tăng 4,85%). Đáng chú ý, tín dụng với ngành khai khoáng đảo chiều tăng ấn tượng 12,13% khi so sánh với mức giảm 11,77% cùng kỳ.

Bên cạnh đó, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng cao hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, phù hợp với định hướng. Cụ thể, so với cuối năm 2023, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6,8%, chiếm tỷ trọng 23,55% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,14%, chiếm tỷ trọng 17,46%. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 21,57%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 29,54%.

Trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế.

Dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn hẹp

Năm 2025 được dự báo tiếp tục là một năm đầy thách thức khi kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều yếu tố bất định. Lạm phát toàn cầu giảm nhưng chưa bền vững và tiềm ẩn rủi ro áp lực tăng trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Giá cả hàng hóa thế giới biến động phức tạp do tác động của diễn biến địa chính trị, xu hướng gia tăng về an ninh lương thực tại các quốc gia, tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan...

Trong khi đó, kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế xuất phát từ nội tại của nền kinh tế như những khó khăn trên thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp chưa thể giải quyết ngay. Cùng với đó, sức hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế còn thấp khi nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng sản xuất do thiếu đơn hàng, giải thể, đóng cửa, sức khỏe tài chính giảm sút, cùng với đó là xu hướng thắt chặt, cắt giảm chi tiêu của người dân...

Với những khó khăn, thách thức này, các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 đều nhận định dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện rất hạn hẹp.

Về phía NHNN, sự thành công trong điều hành chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát nâng cao uy tín của NHNN cũng như neo giữ kỳ vọng lạm phát tương đối vững chắc nhưng rủi ro lạm phát năm 2025 là không thể chủ quan, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 như Quốc hội, Chính phủ đề ra, lãnh đạo NHNN nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để hướng tới phát triển kinh tế bền vững, hài hòa các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đảm bảo giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

(TBTCO) - PJICO đặt kế hoạch năm 2026 với doanh thu phí bảo hiểm 5.238 tỷ đồng, tăng 8% và phấn đấu 10%, lợi nhuận trước thuế 324,5 tỷ đồng, tăng 6% và hướng tới 8%; chia cổ tức bằng tiền mặt 12%. Trước kỳ vọng tăng trưởng hai con số từ cổ đông, lãnh đạo PJICO nhấn mạnh, chiến lược của PJICO là phát triển an toàn, bền vững và hiệu quả, không đặt trọng tâm vào tăng trưởng về doanh thu, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và còn nhiều rủi ro.
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▼70K 17,280 ▼20K
Kim TT/AVPL 16,980 ▼30K 17,280 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▼20K 17,280 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 ▼70K 15,730 ▼70K
Nguyên Liệu 99.9 15,480 ▼70K 15,680 ▼70K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,440 ▲30K 16,840 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,390 ▲30K 16,790 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,320 ▲30K 16,770 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Hà Nội - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Miền Tây - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
NL 99.90 15,450 ▼180K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼180K
Trang sức 99.9 16,490 ▲30K 17,190 ▲30K
Trang sức 99.99 16,500 ▲30K 17,200 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1535K 17,352 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1535K 17,353 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,697 ▼5K 1,732 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,697 ▼5K 1,733 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,677 ▼5K 1,717 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,635 ▼161370K 170 ▼169335K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,038 ▲375K 128,938 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,018 ▲340K 116,918 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,997 ▲305K 104,897 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,361 ▲82254K 100,261 ▲90264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,856 ▲208K 71,756 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cập nhật: 15/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18266 18541 19122
CAD 18589 18866 19479
CHF 33025 33411 34061
CNY 0 3800 3870
EUR 30386 30661 31686
GBP 34881 35274 36208
HKD 0 3230 3432
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15224 15809
SGD 20156 20439 20967
THB 735 798 852
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,358
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,589 30,613 31,864
JPY 161.7 161.99 170.64
GBP 35,153 35,248 36,226
AUD 18,509 18,576 19,151
CAD 18,819 18,879 19,445
CHF 33,375 33,479 34,235
SGD 20,334 20,397 21,064
CNY - 3,798 3,917
HKD 3,303 3,313 3,429
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 783.69 793.37 844.87
NZD 15,239 15,380 15,731
SEK - 2,823 2,904
DKK - 4,093 4,209
NOK - 2,751 2,833
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,240.42 - 7,003.82
TWD 753.82 - 906.6
SAR - 6,920.85 7,241.78
KWD - 83,916 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26358
AUD 18446 18546 19472
CAD 18761 18861 19875
CHF 33264 33294 34873
CNY 3800 3825 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32321
GBP 35176 35226 36986
HKD 0 3355 0
JPY 162.12 162.62 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15324 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20311 20441 21172
THB 0 763.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80