Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dự báo gần 2,5 triệu tỷ đồng vốn được bơm vào nền kinh tế năm 2025. Tín dụng tiếp tục được nắn dòng, hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế, giúp duy trì đà tăng khả quan như năm vừa qua.
aa
Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm
Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Ảnh tư liệu

Đổi mới cơ chế điều hành, nhà băng đẩy mạnh cho vay từ đầu năm

Trao đổi với báo giới về mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2025, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, căn cứ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế Quốc hội đặt ra từ 6,5 - 7%, phấn đấu khoảng 7 - 7,5%, cũng như Chính phủ đặt ra mức phấn đấu trên 8%, ngành ngân hàng dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống sẽ tăng cao hơn năm 2024, góp phần đạt mục tiêu đặt ra về tăng trưởng GDP.

Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ưu đãi lãi suất, kích cầu tín dụng từ đầu năm

"Tùy vào đối tượng, thời hạn vay, quy mô và tính toán hài hòa lợi ích của các khách hàng mang lại khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác, Agribank giảm lãi suất tối đa 1,8%, tương ứng giảm 1,2 - 1,8% so với lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn. Với khách hàng cá nhân, Agribank đang triển khai 5 chương trình cho vay, với chính sách ưu đãi gồm: cho vay tiêu dùng, cho vay phát triển sản phẩm OCOP “Mỗi xã một sản phẩm”, cho vay tín dụng xanh". Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank.

Ông Tú cũng nhấn mạnh, cơ chế giao tăng trưởng tín dụng năm 2025 tiếp tục thông thoáng hơn năm 2024. Các ngân hàng tự xác định tốc độ tăng trưởng, cho vay và đáp ứng nhu cầu vốn song vẫn phải đảm bảo an toàn tài chính. Trước đó, năm 2024, NHNN 2 lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hướng dẫn các ngân hàng tự tính, tự điều chỉnh hạn mức tín dụng dựa trên nhu cầu vốn một cách hợp lý.

Đây cũng cũng là năm thứ hai NHNN giao toàn bộ chỉ tiêu tín dụng cho các ngân hàng thương mại ngay từ đầu năm, với những cơ chế mới để các ngân hàng chủ động kế hoạch. Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Tuy nhiên, con số này sẽ được linh hoạt điều chỉnh, dựa trên điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả năng hấp thụ vốn, nhu cầu đầu tư cho các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, lĩnh vực ưu tiên và những lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm vừa qua, một số tổ chức tín dụng thậm chí được chủ động tăng trưởng tín dụng gồm: Ngân hàng Hợp tác xã, nhóm ngân hàng liên doanh và một số tổ chức tín dụng thuộc nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, nhóm công ty tài chính, nhóm công ty cho thuê tài chính.

Theo Phó Thống đốc, NHNN cũng đang nghiên cứu những biện pháp phù hợp hơn theo cơ chế thị trường, tạo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại nhưng vẫn phải đảm bảo được hai mục tiêu. Một là, kiểm soát lượng tín dụng cung ứng tăng thêm, đảm bảo kiểm soát lạm phát. Hai là, tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý, trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống, tăng cường sự lành mạnh và phát triển các ngân hàng. Với những ngân hàng đang dồn vốn trong những lĩnh vực có nguy cơ, rủi ro, NHNN sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn.

Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, sau khi nhận được văn bản của NHNN về cách tính chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, ngân hàng dự kiến mức tăng trưởng tín dụng 13%. Với quy mô dư nợ của Agribank hiện hơn 1,7 triệu tỷ đồng, Agribank sẽ tăng khoảng 230 nghìn tỷ đồng trong năm 2025.

Dồn vốn vào những ngành kinh tế trọng điểm

Điều hành tăng trưởng tín dụng là điểm nổi bật trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, tăng 15,08%, đạt mục tiêu đề ra (15%). Theo tính toán của NHNN, hệ thống ngân hàng bơm thêm 2,1 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế. Đây là con số không nhỏ so quy mô nền kinh tế, cho thấy tỷ trọng vốn tín dụng đưa vào nền kinh tế rất cao, doanh số cho vay khoảng 23 triệu tỷ đồng trong năm 2024, dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng (cuối năm 2023 là 13,6 triệu tỷ đồng).

Một tín hiệu đáng mừng là tín dụng được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Công tác cấp tín dụng đối với khách hàng theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng tín dụng.

Về cơ cấu tín dụng, năm 2024, thông tin từ NHNN cho thấy có những bước chuyển biến tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong đó, có một số ngành kinh tế trọng điểm tăng cao hơn so với mức tăng chung toàn hệ thống hoặc tăng cao hơn so với cùng kỳ.

Tính đến cuối quý III/2024, tín dụng với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,52% so với cuối năm 2023, chiếm tỷ trọng 12,96% (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,25%); ngành xây dựng tăng 5,46% (cùng kỳ tăng 1,74%); ngành nông, lâm, thủy sản tăng 4,92% (cùng kỳ tăng 2,72%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,55% (cùng kỳ tăng 4,85%). Đáng chú ý, tín dụng với ngành khai khoáng đảo chiều tăng ấn tượng 12,13% khi so sánh với mức giảm 11,77% cùng kỳ.

Bên cạnh đó, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng cao hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, phù hợp với định hướng. Cụ thể, so với cuối năm 2023, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6,8%, chiếm tỷ trọng 23,55% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,14%, chiếm tỷ trọng 17,46%. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 21,57%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 29,54%.

Trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế.

Dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn hẹp

Năm 2025 được dự báo tiếp tục là một năm đầy thách thức khi kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều yếu tố bất định. Lạm phát toàn cầu giảm nhưng chưa bền vững và tiềm ẩn rủi ro áp lực tăng trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Giá cả hàng hóa thế giới biến động phức tạp do tác động của diễn biến địa chính trị, xu hướng gia tăng về an ninh lương thực tại các quốc gia, tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan...

Trong khi đó, kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế xuất phát từ nội tại của nền kinh tế như những khó khăn trên thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp chưa thể giải quyết ngay. Cùng với đó, sức hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế còn thấp khi nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng sản xuất do thiếu đơn hàng, giải thể, đóng cửa, sức khỏe tài chính giảm sút, cùng với đó là xu hướng thắt chặt, cắt giảm chi tiêu của người dân...

Với những khó khăn, thách thức này, các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 đều nhận định dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện rất hạn hẹp.

Về phía NHNN, sự thành công trong điều hành chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát nâng cao uy tín của NHNN cũng như neo giữ kỳ vọng lạm phát tương đối vững chắc nhưng rủi ro lạm phát năm 2025 là không thể chủ quan, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 như Quốc hội, Chính phủ đề ra, lãnh đạo NHNN nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để hướng tới phát triển kinh tế bền vững, hài hòa các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đảm bảo giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

(TBTCO) - Đêm giao thừa tưởng chừng chỉ là những khoảnh khắc sum vầy, nhưng một gia đình tại Long An đã bất ngờ đối diện với biến cố lớn khi người chồng đột ngột qua đời. Trong hoàn cảnh chông chênh ấy, khoản chi trả từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã trở thành điểm tựa giúp người ở lại vượt qua khủng hoảng và từng bước tái thiết cuộc sống sau mất mát.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

(TBTCO) - Trong bối cảnh AI, dữ liệu và hành vi khách hàng đang làm thay đổi mạnh mẽ ngành tài chính - ngân hàng, các tổ chức tài chính không còn cạnh tranh đơn thuần bằng tính năng mới, sản phẩm dịch vụ hay quy mô mạng lưới, mà bằng khả năng thấu hiểu khách hàng, siêu cá nhân hóa và chuyển hóa công nghệ thành trải nghiệm tối ưu của khách hàng trong từng điểm chạm. Đây cũng là những nội dung trọng tâm được các chuyên gia quốc tế chia sẻ tại Hội thảo “Chuyển đổi số: Xu hướng và Tầm nhìn chiến lược” do VietinBank tổ chức trong khuôn khổ sự kiện “Digital Symphony” ngày 15/5/2026.
Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh chi phí y tế và áp lực tài chính liên quan đến sức khỏe ngày càng gia tăng, Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” thông qua việc giới thiệu giải pháp bảo vệ nền tảng mới – Sản phẩm bảo hiểm tử kỳ PRUYên Tâm Vui Khỏe. Đây là bước tiếp theo trong định hướng tăng cường các giải pháp bảo vệ sức khỏe và tài chính toàn diện đến các gia đình Việt.
Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định 85/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý triển khai hiệu quả, bền vững chính sách cho bảo hiểm hưu trí bổ sung. Bộ Tài chính kỳ vọng Nghị định góp phần đa dạng hóa chương trình an sinh xã hội, giảm gánh nặng ngân sách trong bối cảnh chuẩn bị giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, thúc đẩy hình thành nguồn vốn dài hạn, phát triển cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Sống trên những cú chạm số

Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

(TBTCO) - Người dùng có thể hoàn tất một giao dịch ngân hàng chỉ trong vài giây. Nhưng để những thao tác ấy diễn ra đủ nhanh, đủ an toàn và ổn định mỗi ngày là cả một hành trình chuyển đổi số phức tạp của các ngân hàng lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 16,150
Kim TT/AVPL 15,850 16,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 16,150
Nguyên Liệu 99.99 14,800 15,000
Nguyên Liệu 99.9 14,750 14,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 15,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 15,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 161,500
Hà Nội - PNJ 158,500 161,500
Đà Nẵng - PNJ 158,500 161,500
Miền Tây - PNJ 158,500 161,500
Tây Nguyên - PNJ 158,500 161,500
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 161,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 16,150
Miếng SJC Nghệ An 15,850 16,150
Miếng SJC Thái Bình 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 16,150
NL 99.90 14,350
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400
Trang sức 99.9 15,340 16,040
Trang sức 99.99 15,350 16,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 16,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 16,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 161
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 1,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 1,595
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 157,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 119,787
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 108,621
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 97,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 93,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 66,668
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cập nhật: 24/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18517 19107
CAD 18538 18815 19432
CHF 32913 33298 33962
CNY 0 3838 3931
EUR 29946 30219 31252
GBP 34586 34978 35927
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15107 15692
SGD 20045 20328 20861
THB 721 785 839
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,010 26,010 26,390
USD(1-2-5) 24,970 - -
USD(10-20) 24,970 - -
EUR 30,069 30,093 31,527
JPY 161.08 161.37 171.1
GBP 34,768 34,862 36,071
AUD 18,437 18,504 19,213
CAD 18,722 18,782 19,469
CHF 33,163 33,266 34,257
SGD 20,166 20,229 21,030
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,297 3,307 3,446
KRW 15.98 16.67 18.13
THB 769.03 778.53 833.95
NZD 15,086 15,226 15,672
SEK - 2,765 2,868
DKK - 4,024 4,166
NOK - 2,791 2,897
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,208.13 - 7,009.53
TWD 756.49 - 916.35
SAR - 6,906.18 7,273.26
KWD - 83,619 88,960
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80