Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dự báo gần 2,5 triệu tỷ đồng vốn được bơm vào nền kinh tế năm 2025. Tín dụng tiếp tục được nắn dòng, hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế, giúp duy trì đà tăng khả quan như năm vừa qua.
aa
Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm
Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Ảnh tư liệu

Đổi mới cơ chế điều hành, nhà băng đẩy mạnh cho vay từ đầu năm

Trao đổi với báo giới về mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2025, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, căn cứ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế Quốc hội đặt ra từ 6,5 - 7%, phấn đấu khoảng 7 - 7,5%, cũng như Chính phủ đặt ra mức phấn đấu trên 8%, ngành ngân hàng dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống sẽ tăng cao hơn năm 2024, góp phần đạt mục tiêu đặt ra về tăng trưởng GDP.

Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Ưu đãi lãi suất, kích cầu tín dụng từ đầu năm

"Tùy vào đối tượng, thời hạn vay, quy mô và tính toán hài hòa lợi ích của các khách hàng mang lại khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác, Agribank giảm lãi suất tối đa 1,8%, tương ứng giảm 1,2 - 1,8% so với lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn. Với khách hàng cá nhân, Agribank đang triển khai 5 chương trình cho vay, với chính sách ưu đãi gồm: cho vay tiêu dùng, cho vay phát triển sản phẩm OCOP “Mỗi xã một sản phẩm”, cho vay tín dụng xanh". Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank.

Ông Tú cũng nhấn mạnh, cơ chế giao tăng trưởng tín dụng năm 2025 tiếp tục thông thoáng hơn năm 2024. Các ngân hàng tự xác định tốc độ tăng trưởng, cho vay và đáp ứng nhu cầu vốn song vẫn phải đảm bảo an toàn tài chính. Trước đó, năm 2024, NHNN 2 lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hướng dẫn các ngân hàng tự tính, tự điều chỉnh hạn mức tín dụng dựa trên nhu cầu vốn một cách hợp lý.

Đây cũng cũng là năm thứ hai NHNN giao toàn bộ chỉ tiêu tín dụng cho các ngân hàng thương mại ngay từ đầu năm, với những cơ chế mới để các ngân hàng chủ động kế hoạch. Mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 dự kiến 16%, tương ứng gần 2,5 triệu tỷ vốn được bơm vào nền kinh tế. Tuy nhiên, con số này sẽ được linh hoạt điều chỉnh, dựa trên điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả năng hấp thụ vốn, nhu cầu đầu tư cho các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, lĩnh vực ưu tiên và những lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm vừa qua, một số tổ chức tín dụng thậm chí được chủ động tăng trưởng tín dụng gồm: Ngân hàng Hợp tác xã, nhóm ngân hàng liên doanh và một số tổ chức tín dụng thuộc nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, nhóm công ty tài chính, nhóm công ty cho thuê tài chính.

Theo Phó Thống đốc, NHNN cũng đang nghiên cứu những biện pháp phù hợp hơn theo cơ chế thị trường, tạo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại nhưng vẫn phải đảm bảo được hai mục tiêu. Một là, kiểm soát lượng tín dụng cung ứng tăng thêm, đảm bảo kiểm soát lạm phát. Hai là, tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý, trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống, tăng cường sự lành mạnh và phát triển các ngân hàng. Với những ngân hàng đang dồn vốn trong những lĩnh vực có nguy cơ, rủi ro, NHNN sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn.

Bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, sau khi nhận được văn bản của NHNN về cách tính chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, ngân hàng dự kiến mức tăng trưởng tín dụng 13%. Với quy mô dư nợ của Agribank hiện hơn 1,7 triệu tỷ đồng, Agribank sẽ tăng khoảng 230 nghìn tỷ đồng trong năm 2025.

Dồn vốn vào những ngành kinh tế trọng điểm

Điều hành tăng trưởng tín dụng là điểm nổi bật trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, tăng 15,08%, đạt mục tiêu đề ra (15%). Theo tính toán của NHNN, hệ thống ngân hàng bơm thêm 2,1 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế. Đây là con số không nhỏ so quy mô nền kinh tế, cho thấy tỷ trọng vốn tín dụng đưa vào nền kinh tế rất cao, doanh số cho vay khoảng 23 triệu tỷ đồng trong năm 2024, dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng (cuối năm 2023 là 13,6 triệu tỷ đồng).

Một tín hiệu đáng mừng là tín dụng được hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Công tác cấp tín dụng đối với khách hàng theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng tín dụng.

Về cơ cấu tín dụng, năm 2024, thông tin từ NHNN cho thấy có những bước chuyển biến tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong đó, có một số ngành kinh tế trọng điểm tăng cao hơn so với mức tăng chung toàn hệ thống hoặc tăng cao hơn so với cùng kỳ.

Tính đến cuối quý III/2024, tín dụng với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,52% so với cuối năm 2023, chiếm tỷ trọng 12,96% (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,25%); ngành xây dựng tăng 5,46% (cùng kỳ tăng 1,74%); ngành nông, lâm, thủy sản tăng 4,92% (cùng kỳ tăng 2,72%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,55% (cùng kỳ tăng 4,85%). Đáng chú ý, tín dụng với ngành khai khoáng đảo chiều tăng ấn tượng 12,13% khi so sánh với mức giảm 11,77% cùng kỳ.

Bên cạnh đó, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng cao hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, phù hợp với định hướng. Cụ thể, so với cuối năm 2023, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6,8%, chiếm tỷ trọng 23,55% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,14%, chiếm tỷ trọng 17,46%. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 21,57%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 29,54%.

Trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế.

Dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn hẹp

Năm 2025 được dự báo tiếp tục là một năm đầy thách thức khi kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều yếu tố bất định. Lạm phát toàn cầu giảm nhưng chưa bền vững và tiềm ẩn rủi ro áp lực tăng trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Giá cả hàng hóa thế giới biến động phức tạp do tác động của diễn biến địa chính trị, xu hướng gia tăng về an ninh lương thực tại các quốc gia, tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan...

Trong khi đó, kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế xuất phát từ nội tại của nền kinh tế như những khó khăn trên thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp chưa thể giải quyết ngay. Cùng với đó, sức hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế còn thấp khi nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng sản xuất do thiếu đơn hàng, giải thể, đóng cửa, sức khỏe tài chính giảm sút, cùng với đó là xu hướng thắt chặt, cắt giảm chi tiêu của người dân...

Với những khó khăn, thách thức này, các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 đều nhận định dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện rất hạn hẹp.

Về phía NHNN, sự thành công trong điều hành chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát nâng cao uy tín của NHNN cũng như neo giữ kỳ vọng lạm phát tương đối vững chắc nhưng rủi ro lạm phát năm 2025 là không thể chủ quan, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 như Quốc hội, Chính phủ đề ra, lãnh đạo NHNN nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để hướng tới phát triển kinh tế bền vững, hài hòa các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đảm bảo giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80