Hiệu ứng phụ khi ngân hàng “say sưa” với trái phiếu

Chí Tín
(TBTCO) - (TBTCVN) - Ít ngày tới, Thông tư 12/2021/TT-NHNN có hiệu lực sẽ trang bị hành lang pháp lý đầy đủ hơn cho các ngân hàng trong hoạt động mua trái phiếu của nhau. Tuy nhiên, việc ngân hàng để tiền nhiều trong trái phiếu của ngân hàng khác sẽ không thể đảm bảo thanh khoản cao như đối với trái phiếu chính phủ.
aa

Thêm những quy định cụ thể

Thông tư 12/2021/TT-NHNN (Thông tư 12) của Ngân hàng Nhà nước sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 27/10. Văn bản pháp lý này quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trong nước.

Hiệu ứng phụ khi ngân hàng “say sưa” với trái phiếu

Thông tư cũng quy định khá đầy đủ các tình huống liên quan đến việc ngân hàng mua bán trái phiếu (và các loại giấy tờ có giá) do ngân hàng khác đã phát hành trong nước chưa đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, thông tư này không điều chỉnh đối với các hoạt động mua, bán giấy tờ có giá của ngân hàng trên thị trường quốc tế; mua, bán trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành được Chính phủ bảo lãnh.

Cụ thể, Thông tư 12 quy định, các ngân hàng được mua, bán giấy tờ có giá phù hợp với nội dung ghi trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp. Bên mua, bên bán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc mua, bán giấy tờ có giá phù hợp với quy định tại thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan.

1/4 số trái phiếu ngân hàng phát hành được ngân hàng khác mua vào

Theo số liệu thống kê của Công ty chứng khoán SSI, trong 6 tháng đầu năm 2021, các ngân hàng phát hành 68,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu với kỳ hạn bình quân 3,37 năm và lãi suất bình quân

4,3%/năm. Nhà đầu tư mua trái phiếu ngân hàng gồm các ngân hàng (17,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 26%); công ty chứng khoán (38,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 56%); tổ chức trong nước (10,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 15%) và cá nhân (2 nghìn tỷ đồng, chiếm 3%).

Giấy tờ có giá được mua, bán thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bán và chưa đến hạn thanh toán hết gốc và lãi. Bên bán có cam kết giấy tờ có giá không có tranh chấp, được phép giao dịch theo quy định của pháp luật, không trong tình trạng đang được chiết khấu, tái chiết khấu. Các ngân hàng mua, bán trái phiếu phù hợp với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, nghị định của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, các văn bản khác hướng dẫn Luật Chứng khoán, quy định của pháp luật có liên quan và quy định tại thông tư này.

Đối với giấy tờ có giá của công ty tài chính hoặc công ty cho thuê tài chính phát hành, các ngân hàng chỉ được mua, bán với tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài).

Tính 2 mặt

Văn bản pháp lý quy định việc các ngân hàng mua bán trái phiếu của nhau được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng hơn, giúp các ngân hàng dễ dàng đối chiếu tuân thủ, đồng thời chủ động kiểm soát được rủi ro khi tham gia hoạt động mua bán và phát hành trái phiếu trên thị trường.

Ngoài ra không chỉ các ngân hàng, hoạt động mua bán trái phiếu của các ngân hàng cũng còn có sức ảnh hưởng khá lớn đến nhiều chủ thể khác, bởi ngân hàng trước nay vẫn là đối tượng tham gia mạnh mẽ nhất đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Theo số liệu tổng hợp của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, trong 9 tháng đầu năm, nhóm các ngân hàng thương mại dẫn đầu với tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 132,3 nghìn tỷ đồng. Trong đó, 31,7 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 (chiếm 24%), 75% trái phiếu phát hành kỳ hạn ngắn 2 - 4 năm.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính - ngân hàng cho rằng, việc các ngân hàng phát hành lượng lớn trái phiếu có thể nhằm tăng vốn cấp 2 để đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Việc các ngân hàng mua bán chéo trái phiếu lẫn nhau, theo ông Hiếu, đây là nghiệp vụ bình thường của thị trường này, cũng có điểm tích cực là các ngân hàng nhìn nhận đây là khoản đầu tư có tính thanh khoản tốt.

Dưới góc quan sát của một chuyên gia khác là ông Nguyễn Thành Hòa, Chuyên gia phân tích mảng ngân hàng thuộc Công ty chứng khoán Bảo Việt cho rằng, thời gian gần đây các ngân hàng ưa thích mua trái phiếu của nhau hơn bởi có thể đang có xu hướng các ngân hàng và công ty bảo hiểm chuyển từ mua trái phiếu chính phủ sang mua trái phiếu ngân hàng. Trước đây, các ngân hàng thường đầu tư tiền nhàn rỗi vào trái phiếu chính phủ, nhưng một phần các ngân hàng có thể sẽ dần muốn để tiền nhiều hơn sang trái phiếu của ngân hàng khác để hưởng lãi suất cao hơn.

Đánh giá về rủi ro thanh toán, giới chuyên gia vẫn nhìn nhận rằng trái phiếu ngân hàng cũng khá an toàn, vì khả năng ngân hàng phá sản hoặc mất khả năng thanh toán là gần như không có. Tuy nhiên, rủi ro thanh khoản của trái phiếu ngân hàng hiện vẫn cao hơn trái phiếu chính phủ, bởi lẽ, trái phiếu chính phủ trong những năm gần đây được phát hành định kỳ, đều đặn với quy mô phát hành lớn. Theo đánh giá của một chuyên gia tài chính, tính lỏng (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) của trái phiếu chính phủ hiện đã đủ tốt để thậm chí có thể coi như một loại tài sản ngắn hạn (ngay cả với những loại trái phiếu kỳ hạn dài). Do đó, các tổ chức tài chính có thể dùng vốn ngắn hạn để đầu tư trái phiếu chính phủ mà không sợ các vấn đề rủi ro về thanh khoản.

Trong khi đó, trái phiếu ngân hàng tuy cũng có tính lỏng tốt hơn so với trước đây, nhưng rủi ro thanh khoản của trái phiếu ngân hàng cũng khó đánh giá hơn do kỳ hạn, thời điểm phát hành, chủ thể phát hành, lãi suất… của các đợt phát hành vẫn còn khá phức tạp. Cũng là trái phiếu ngân hàng, có những đợt phát hành quy mô hàng nghìn tỷ đồng, nhưng cũng có những đợt phát hành nhỏ chỉ một hai trăm tỷ đồng, thậm chí có những đợt chỉ vài chục tỷ đồng. Chưa kể, sự khác nhau về quy mô và uy tín của ngân hàng phát hành cũng là yếu tố có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng bán lại trái phiếu trên thị trường.

Sẽ có quy định mới về ngân hàng mua bán nợ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong quá trình mua bán nợ theo Thông tư 09, các ngân hàng phản ánh có phát sinh một số vướng mắc do Thông tư 09 đã có quy định, nhưng chưa hướng dẫn cụ thể để xử lý được một số trường hợp phát sinh trong thực tế. Chẳng hạn như các vấn đề định giá khoản nợ, xử lý chênh lệch tỷ giá, xử lý tài chính đối với trường hợp bên mua nợ là tổ chức tín dụng…

Ngoài ra, thời gian gần đây có hiện tượng tổ chức tín dụng thực hiện bán nợ cho bên mua nợ không phải là tổ chức tín dụng và được thanh toán chậm tiền mua nợ. Hoạt động này được phản ánh thiếu khách quan về tình trạng của các khoản nợ cấp tín dụng tại các tổ chức tín dụng.

Từ các lý do trên, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, để đảm bảo thống nhất với quy định pháp luật và xử lý được các vấn đề thực tế phát sinh, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 09 là cần thiết.

Một trong những nội dung mới được sửa đổi, bổ sung đưa vào dự thảo là việc tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ về mua, bán nợ. Quy định này phải phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ; quy trình, phương pháp định giá khoản nợ; quy trình quản trị rủi ro đối với hoạt động mua bán nợ…

Liên quan đến định giá khoản nợ, dự thảo quy định tổ chức tín dụng có quyền thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá thực hiện nghĩa vụ mua, bán nợ đối với mua bán nợ theo phương thức thỏa thuận, giá khởi điểm đối với mua, bán nợ theo phương thức bán đấu giá để Hội đồng mua, bán nợ quyết định.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,680 ▲110K 17,380 ▲110K
Trang sức 99.99 16,690 ▲110K 17,390 ▲110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17517 17790 18374
CAD 18377 18653 19272
CHF 32328 32711 33364
CNY 0 3470 3830
EUR 29588 29860 30886
GBP 33981 34371 35306
HKD 0 3229 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14758 15341
SGD 19864 20146 20663
THB 717 781 834
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,698 29,722 30,954
JPY 160.15 160.44 169.08
GBP 34,122 34,214 35,185
AUD 17,712 17,776 18,339
CAD 18,548 18,608 19,179
CHF 32,542 32,643 33,408
SGD 19,954 20,016 20,684
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 15.89 16.57 17.91
THB 765.55 775 824.17
NZD 14,731 14,868 15,212
SEK - 2,710 2,789
DKK - 3,975 4,090
NOK - 2,657 2,735
LAK - 0.92 1.28
MYR 6,093.01 - 6,836.31
TWD 740.71 - 891.81
SAR - 6,895.53 7,218.76
KWD - 83,467 88,265
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17722 17822 18747
CAD 18566 18666 19682
CHF 32587 32617 34191
CNY 3754.9 3779.9 3915.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34290 34340 36100
HKD 0 3355 0
JPY 161.44 161.94 172.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14877 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20026 20156 20889
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,357
USD20 26,165 26,215 26,357
USD1 23,847 26,215 26,357
AUD 17,797 17,897 19,016
EUR 29,954 29,954 31,386
CAD 18,519 18,619 19,941
SGD 20,112 20,262 21,500
JPY 161.88 163.38 168.01
GBP 34,215 34,565 35,456
XAU 17,198,000 0 17,502,000
CNY 0 3,664 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80