Khủng hoảng ngân hàng toàn cầu liệu có gây "nguy hiểm” cho Việt Nam?

Mai Lâm
(TBTCO) - Trước cuộc khủng hoàng ngân hàng toàn cầu, câu hỏi đặt ra là liệu ngành Ngân hàng Việt Nam có gặp “nguy hiểm”? Theo chuyên gia Đại học RMIT, ngành Ngân hàng tại Việt Nam hiện vẫn cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Áp lực hiện tại có thể là một cơ hội tốt để Việt Nam củng cố lĩnh vực tài chính hơn nữa.
aa

Không có nguy cơ phải đóng cửa bất kỳ ngân hàng nào

Sự sụp đổ của Ngân hàng Silicon Valley, khiến Ngân hàng First Republic (Hoa Kỳ) lung lay và ngành ngân hàng toàn cầu rúng động, tác động đến châu Âu với Credit Suisse và Ngân hàng Deutsche bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng thương mại đã vượt qua cuộc khủng hoảng gần đây mà không bị tổn hại. Tình hình này, với Việt Nam, chỉ là tin tức ở nơi nào đó xa xôi và ảnh hưởng rất ít đến hoạt động kinh doanh thường nhật.

Khủng hoảng ngân hàng toàn cầu liệu có gây
Ảnh minh họa

Nhưng liệu các ngân hàng thương mại Việt Nam có đang gặp rủi ro và có khả năng sụp đổ như những gì vừa diễn ra với Ngân hàng Silicon Valley không? Phân tích về điều này, TS. Daniel Borer - quyền chủ nhiệm chương trình kinh doanh toàn cầu, Đại học RMIT (Australia) nhận định, hiện có một vài yếu tố có lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện không có nguy cơ phải đóng cửa bất kỳ ngân hàng nào.

Thứ nhất, các ngân hàng thương mại Việt Nam nắm giữ ít trái phiếu chính phủ hơn nhiều so với các ngân hàng Mỹ. Bên cạnh đó, Việt Nam đã vượt qua đại dịch nhờ một cộng đồng doanh nghiệp khá lành mạnh vẫn vay vốn ngân hàng cho các dự án kinh doanh của họ, ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất.

Thêm vào đó, Ngân hàng Nhà nước không tăng lãi suất nhanh và mạnh như các nước phương Tây, thậm chí còn liên tiếp giảm lãi suất điều hành, lãi suất tái cấp vốn, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay, nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến hiện tại, mức giảm lãi suất huy động chung của tất cả các tổ chức tín dụng của nền kinh tế khoảng từ 1 - 1,2%, còn giảm lãi suất cho vay chung của các ngân hàng trong cả hệ thống khoảng 0,5 - 0,65%. Riêng các ngân hàng thương mại nhà nước, mức giảm tích cực hơn. Tính trung bình phần lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại nhà nước giảm từ 1 - 1,5%, lãi suất cho vay giảm từ 1,5 - 2%.

Theo TS. Daniel Borer, trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa để giảm lãi suất nhiều hơn, do tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam không tăng nhanh như các nước khác. Vì vậy, ngay cả nếu các ngân hàng thương mại Việt Nam nắm giữ trái phiếu, họ sẽ chịu thiệt hại ít hơn rất nhiều. Ngoài ra, trong khi trái phiếu Chính phủ Mỹ có thể có thời gian đáo hạn lên đến 30 năm thì trái phiếu chính phủ Việt Nam thường đáo hạn chỉ sau 3 - 5 năm.

Bên cạnh đó, trong quá khứ, các cuộc khủng hoảng ngân hàng, bao gồm cả cuộc khủng hoảng lớn vào năm 2012 đã khiến Ngân hàng Nhà nước thắt chặt các quy định giúp ngành ngân hàng tại Việt Nam ổn định hơn. Ngoài ra, một số bên cho vay hiện đã tuân thủ theo các quy định ngân hàng chuẩn mực quốc tế như Basel III. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần thể hiện rằng sẽ can thiệp và đưa ra giải pháp lập lại trật tự với bất kỳ ngân hàng thương mại nào có dấu hiệu gặp nguy hiểm.

Áp lực hiện tại là cơ hội tốt để củng cố lĩnh vực tài chính hơn nữa

Phân tích thêm về tác động của cuộc khủng hoảng ngân hàng lên thị trường tài chính Việt Nam, TS. Daniel Borer nhận định, trong khi các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể không gặp rủi ro, nhưng lĩnh vực bất động sản lại đang bị rung chuyển do lãi suất tăng, khiến tình hình trở nên căng thẳng.

Hơn nữa, lĩnh vực tài chính Việt Nam thường là ngắn hạn. Hầu hết các công ty chỉ có thể đầu tư thông qua tín dụng ngắn hạn. Khi các khoản này đáo hạn, họ cần tái cấp vốn với lãi suất cao hơn bình thường, gây áp lực lên cơ cấu chi phí của họ. Tín dụng dài hạn sẽ giúp củng cố sức mạnh tài chính cho các tập đoàn và hơn thế nữa, còn cho toàn bộ nền kinh tế.

Bên cạnh đó, một áp lực khác là nợ khó đòi. TS. Daniel Borer phân tích, để ứng phó với đại dịch, Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại bớt khắt khe hơn với nợ xấu. Điều này cho phép các ngân hàng thương mại không phải xóa nợ đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch. Nhưng trong khi một số doanh nghiệp đã phục hồi, nhiều ngân hàng vẫn còn khoản nợ xấu đáng kể.

Khủng hoảng ngân hàng toàn cầu liệu có gây
TS Daniel Borer, Đại học RMIT Australia

Theo vị chuyên gia của Đại học RMIT, nhìn chung, dẫu ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện không có nguy cơ phải đóng cửa bất kỳ ngân hàng nào, áp lực hiện tại có thể là một cơ hội tốt để củng cố lĩnh vực tài chính hơn nữa. Cho phép các công ty bắt tay vào các dự án dài hạn và không phải bận tâm về việc tái cấp vốn nợ trong thời gian ngắn sẽ là một bước đi đúng hướng.

Ngoài ra, TS. Daniel Borer còn cho rằng, trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam, giải phóng dòng vốn sẽ giúp thị trường vốn Việt Nam hấp dẫn hơn đối với vốn nước ngoài.

“Dù điều này có vẻ đi ngược lại quan niệm thông thường, nhưng cho phép tiền chảy ra khỏi đất nước sẽ dẫn đến dòng vốn rót vào cao hơn vì các nhà đầu tư quốc tế được đảm bảo rằng họ có thể thu hồi vốn nếu cần” - TS. Daniel Borer lý giải.

Có thể tiếp tục giảm lãi suất từ nay tới cuối năm

Tại họp báo Chính phủ ngày 5/5, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, sắp tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo, định hướng, vận động các ngân hàng thương mại tiếp tục giảm lãi suất cho doanh nghiệp, tạo điều kiện mở rộng, đẩy mạnh hơn nữa tín dụng từ nay đến cuối năm...

Mai Lâm

Đọc thêm

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ, vai trò của các định chế tài chính ngày càng trở nên then chốt. Với định hướng đồng hành cùng các ngành nền tảng, doanh nghiệp đầu tàu và hệ sinh thái kinh tế, SHB đang từng bước khẳng định vị thế là cầu nối nguồn lực, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Tại phiên thảo luận “Moving Capital to the Right Destination” trong khuôn khổ Bloomberg Businessweek Vietnam, ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã chia sẻ góc nhìn về áp lực vốn, yêu cầu đa dạng hóa cấu trúc tài chính và định hướng phân bổ dòng vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới.
Tỷ giá USD hôm nay (14/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, nhà đầu tư nghi ngờ đà tăng của USD

Tỷ giá USD hôm nay (14/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, nhà đầu tư nghi ngờ đà tăng của USD

(TBTCO) - Sáng ngày 14/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.106 VND/USD, trong khi USD tự do nhích tăng phiên gần nhất 60 - 80 đồng, lên 26.860 - 26.910 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,35 điểm, khảo sát cho thấy nhà đầu tư vẫn hoài nghi về đà tăng của USD, coi đây chủ yếu là phản ứng ngắn hạn trước căng thẳng địa chính trị hơn là xu hướng dài hạn.
HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

(TBTCO) - Năm 2025, HSBC Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế 4.141,5 tỷ đồng, giảm 6,9%, chủ yếu do thu nhập lãi thuần suy giảm, trong khi chi phí hoạt động tăng. Dư nợ cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2025 đạt 75.412,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; tỷ lệ nợ xấu giảm còn 0,42%, phản ánh chất lượng tài sản cải thiện.
BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

(TBTCO) - Từ nay đến hết 30/6/2026, khách hàng nhận ngay combo hoàn tiền hấp dẫn và miễn phí thường niên trọn đời khi đăng ký mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,300
Kim TT/AVPL 17,010 17,310
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,300
Nguyên Liệu 99.99 15,600 15,800
Nguyên Liệu 99.9 15,550 15,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,410 16,810
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,360 16,760
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,290 16,740
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,700 172,700
Hà Nội - PNJ 169,700 172,700
Đà Nẵng - PNJ 169,700 172,700
Miền Tây - PNJ 169,700 172,700
Tây Nguyên - PNJ 169,700 172,700
Đông Nam Bộ - PNJ 169,700 172,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,300
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,300
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,970 17,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,970 17,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,970 17,270
NL 99.90 15,630
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,680
Trang sức 99.9 16,460 17,160
Trang sức 99.99 16,470 17,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,702 1,727
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,702 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,682 1,712
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,005 169,505
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,663 128,563
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,678 116,578
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,692 104,592
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,107 9,997
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,648 71,548
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 173
Cập nhật: 15/04/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19051
CAD 18602 18879 19495
CHF 33085 33471 34108
CNY 0 3800 3870
EUR 30411 30686 31714
GBP 34851 35244 36175
HKD 0 3231 3433
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15218 15805
SGD 20159 20442 20971
THB 737 800 853
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,545 30,569 31,830
JPY 161.35 161.64 170.32
GBP 35,055 35,150 36,139
AUD 18,367 18,433 19,012
CAD 18,805 18,865 19,442
CHF 33,302 33,406 34,176
SGD 20,311 20,374 21,052
CNY - 3,800 3,921
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.44 17.14 18.53
THB 784.42 794.11 846.57
NZD 15,179 15,320 15,679
SEK - 2,826 2,908
DKK - 4,087 4,206
NOK - 2,747 2,827
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,238.84 - 6,999.91
TWD 753.77 - 907.53
SAR - 6,918.45 7,242.94
KWD - 83,916 88,736
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,417 30,539 31,723
GBP 34,960 35,100 36,109
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,039 33,172 34,112
JPY 161.54 162.19 169.49
AUD 18,319 18,393 18,985
SGD 20,317 20,399 20,983
THB 803 806 842
CAD 18,755 18,830 19,398
NZD 15,202 15,735
KRW 17.05 18.73
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26361
AUD 18379 18479 19404
CAD 18781 18881 19898
CHF 33323 33353 34944
CNY 3803.2 3828.2 3963.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30587 30617 32345
GBP 35159 35209 36962
HKD 0 3355 0
JPY 162.11 162.61 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15324 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20323 20453 21174
THB 0 766.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17300000
SBJ 15000000 15000000 17300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,132 26,361
USD20 26,164 26,132 26,361
USD1 26,164 26,132 26,361
AUD 18,342 18,442 19,561
EUR 30,669 30,669 32,077
CAD 18,699 18,799 20,104
SGD 20,367 20,517 21,445
JPY 162.46 163.96 168.53
GBP 34,961 35,311 36,189
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 801 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80