Gói hỗ trợ 2% lãi suất:

Kỳ vọng lớn, nhưng cảnh giác “hiệu ứng phụ”

Chí Tín
(TBTCO) - Gói hỗ trợ lãi suất 2% đặt ra kỳ vọng vừa có thể thúc đẩy tăng tưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng, vừa hỗ trợ tốt cho cộng đồng doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh sau đại dịch. Tuy nhiên, vẫn có ý kiến trái chiều về “hiệu ứng phụ”, cả ở góc độ đảm bảo kiểm soát dòng vốn đến đúng đối tượng, cả dưới góc độ bao phủ để không bỏ rơi những đối tượng yếu thế.
aa

Quy mô 1 triệu tỷ đồng mỗi năm

Gói hỗ trợ lãi suất là một trong những nội dung được Quốc hội thông qua đầu năm 2021 về các giải pháp chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Kỳ vọng lớn, nhưng cảnh giác “hiệu ứng phụ”
Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng, triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Trong số 176 nghìn tỷ đồng chi cho đầu tư phát triển, ngân sách sẽ bố trí hỗ trợ lãi suất 2%/năm, tối đa 40 nghìn tỷ đồng thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại cho một số ngành, lĩnh vực. Theo tính toán của ông Nguyễn Duy Thành - Trưởng Phòng phân tích thuộc Công ty chứng khoán Pinetree, với giả định lãi suất cho vay bình quân là 10% thì sẽ có khoảng 2 triệu tỷ đồng vay nợ được hỗ trợ lãi suất, chiếm tỷ trọng tương đương khoảng 9% dự nợ toàn hệ thống. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, gói hỗ trợ lãi suất trên sẽ có tác động tích cực lên tăng trưởng tín dụng.

Đây là một giải pháp mang tính chất kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Giải pháp cấp bù lãi suất có tính ưu việt ở chỗ dù xuất phát điểm là chính sách tài khóa do nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (40 nghìn tỷ đồng), nhưng không thực hiện cấp phát trực tiếp mà thông qua hệ thống cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Về cách thức thực hiện, giải pháp hỗ trợ lãi suất phần nào khắc phục được những nhược điểm của phương thức hỗ trợ tiền trực tiếp truyền thống. Cụ thể, việc cấp tiền trực tiếp sẽ phải thực hiện các khâu xét duyệt, phải xây dựng các quy trình quy chế giám sát riêng dẫn đến phát sinh chi phí, thời gian kéo dài. Trong khi đó với giải pháp hỗ trợ lãi suất, việc giám sát sẽ thông qua chính các cơ chế đảm bảo chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng, tận dụng hệ thống mạng lưới ngân hàng để phân bổ vốn.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, gói hỗ trợ lãi suất 2%/năm dự kiến triển khai trong hai năm 2022-2023, tương đương với quy mô dư nợ khoảng 1 triệu tỷ đồng mỗi năm. Các trường hợp được hỗ trợ bao gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có khả năng trả nợ, có khả năng phục hồi và các trường hợp vay cải tạo chung cư cũ, xây dựng nhà ở xã hội, nhà cho công nhân thuê và thuê mua.

Cảnh giác “hiệu ứng phụ”

Một trong những ưu việt nổi bật của gói cấp bù lãi suất 2% là tiền hỗ trợ đến được người dân và doanh nghiệp nhanh hơn, với chi phí thấp, do tận dụng kênh phân bổ và cơ chế cho vay đã sẵn có của hộ thống ngân hàng. Tuy nhiên, cũng vẫn có những ý kiến lo ngại với những góc nhìn khác nhau xung quanh gói hỗ trợ này.

Một trong những vấn đề đặt ra đối với giải pháp này là việc kiểm soát dòng tiền, cụ thể lượng tiền lớn đổ ra nền kinh tế có thể dẫn đến nguy cơ lạm phát nếu không được kiểm soát tốt.

Tuy nhiên về việc này, các chuyên gia cho rằng với cơ chế giám sát tín dụng, doanh nghiệp muốn được vay vốn thì vẫn phải đáp ứng các điều kiện tín dụng của ngân hàng, đồng thời các ngân hàng vẫn phải chịu hạn mức tín dụng được cấp trong năm, nên họ không thể cho vay vượt quá hạn mức. Ngoài ra, các ngân hàng nếu thực thi chính sách này có thể cũng không nhất thiết phải là cho vay khoản vay mới, mà họ có thể điều chỉnh các khoản vay cũ đối với những khách hàng đủ điều kiện được hỗ trợ.

Ở một chiều hướng ngược lại, cũng có ý kiến lại tỏ ra lo ngại rằng việc tiếp cận nguồn vốn có thể cũng không phải dễ dàng và có thể có những đối tượng thực sự khó khăn nhưng cũng chưa hẳn có thể sẽ vay được vốn. Ông Nguyễn Duy Thành cho biết, nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ dù cần vốn khôi phục kinh doanh nhưng có thể có những doanh nghiệp không đủ điều kiện vay ngân hàng có thể cũng vẫn không được hưởng lợi từ gói hỗ trợ.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, ông Đào Minh Tú cho biết, trong năm 2022, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành lãi suất theo diễn biến thị trường, cân đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu của chính sách tiền tệ. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, gia tăng các gói vay ưu đãi hỗ trợ các nhóm khách hàng bị ảnh hưởng nặng từ dịch bệnh.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng, triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, song tăng trưởng tín dụng phải đảm bảo an toàn, hiệu quả. Tín dụng sẽ được tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Một số giải pháp điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2022

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2022 bình quân khoảng 4%.

Năm 2022, định hướng tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế; thực hiện đồng bộ các giải pháp phù hợp nhằm góp phần ổn định thị trường ngoại tệ, thị trường vàng, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ; tăng dự trữ ngoại hối nhà nước khi điều kiện thị trường thuận lợi và chuyển hóa các nguồn vốn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Năm 2026, VINARE đặt mục tiêu doanh thu, trong đó gồm doanh thu phí bảo hiểm, đạt 4.266 tỷ đồng, tăng 10,2%; lợi nhuận trước thuế 560 tỷ đồng, tăng 10,3% và duy trì cổ tức tiền mặt 10%. Trước đó, dù chịu tác động từ thiên tai diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn hoàn thành vượt kế hoạch kinh doanh năm 2025.
Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,430 ▲230K 17,730 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲50K 16,150 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,950 ▲50K 17,250 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,900 ▲50K 17,200 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,830 ▲50K 17,180 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Hà Nội - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đà Nẵng - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Miền Tây - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Tây Nguyên - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Miếng SJC Nghệ An 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Miếng SJC Thái Bình 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,910 ▲250K 17,610 ▲250K
Trang sức 99.99 16,920 ▲250K 17,620 ▲250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,742 ▲23K 17,722 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,742 ▲23K 17,723 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 174 ▼1543K 177 ▼1570K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 174 ▼1543K 1,771 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 172 ▼1525K 1,755 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 167,262 ▲2277K 173,762 ▲2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,888 ▲1725K 131,788 ▲1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,602 ▲1564K 119,502 ▲1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,316 ▲1403K 107,216 ▲1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,577 ▲1341K 102,477 ▲1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,441 ▲959K 73,341 ▲959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cập nhật: 01/04/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17657 17930 18506
CAD 18402 18679 19296
CHF 32355 32738 33381
CNY 0 3470 3830
EUR 29817 30089 31117
GBP 34055 34445 35379
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14789 15376
SGD 19941 20224 20751
THB 720 783 837
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,927 29,951 31,190
JPY 161.19 161.48 170.17
GBP 34,218 34,311 35,280
AUD 17,890 17,955 18,520
CAD 18,581 18,641 19,207
CHF 32,607 32,708 33,467
SGD 20,055 20,117 20,788
CNY - 3,781 3,899
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 16.09 16.78 18.14
THB 769.62 779.13 830.09
NZD 14,806 14,943 15,293
SEK - 2,736 2,816
DKK - 4,005 4,121
NOK - 2,673 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,099.75 - 6,845.57
TWD 744.5 - 896.39
SAR - 6,895.21 7,219.58
KWD - 83,477 88,275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 17860 17960 18885
CAD 18596 18696 19707
CHF 32627 32657 34231
CNY 3765.9 3790.9 3926.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30015 30045 31772
GBP 34366 34416 36177
HKD 0 3355 0
JPY 162.44 162.94 173.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14918 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20108 20238 20971
THB 0 749.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17500000 17500000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,360
USD20 26,165 26,215 26,360
USD1 23,850 26,215 26,360
AUD 17,911 18,011 19,132
EUR 30,138 30,138 31,569
CAD 18,537 18,637 19,952
SGD 20,180 20,330 20,907
JPY 162.78 164.28 168.95
GBP 34,231 34,581 35,470
XAU 17,498,000 0 17,802,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80