Mặt bằng lãi suất sẽ ở mức thấp nhờ hạn mức tín dụng được nới

Thái Duy
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khẳng định chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ được thực hiện và sẽ nới hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng có chất lượng tài sản và các chỉ số an toàn tốt. Nhờ vậy, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay sẽ được duy trì ở mức thấp như hiện tại.
aa

Đã có nhiều ngân hàng được nới room tín dụng

Thông tin từ SSI Research cho biết, tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đi ngang, kết tuần ở 0,69% (+0 bps) cho kỳ hạn qua đêm và 0,78% (-2 bps) cho kỳ hạn 1 tuần. Nguyên nhân là do thanh khoản hệ thống được hỗ trợ bởi lượng VND cung ứng từ nguồn Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua ngoại tệ kỳ hạn đáo hạn trong tuần qua, trong khi kênh trung hòa truyền thống (nghiệp vụ thị trường mở) không được sử dụng.

Các chuyên gia SSI Research dự báo trong tuần này, thanh khoản tiền đồng (VND) sẽ tăng mạnh đến từ các hợp đồng mua ngoại tệ đến từ NHNN và Kho bạc Nhà nước (KBNN) và giúp lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm. Cụ thể, đối với NHNN, nghiệp vụ mua ngoại tệ giao ngay được kỳ vọng sẽ quay lại nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, trong khi đó nguồn VND đến từ hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn vẫn được đáo hạn với khối lượng lớn. Đối với KBNN, KBNN đã thực hiện chào mua thành công một lượng lớn ngoại tệ vào cuối tuần trước và sẽ được thực hiện vào đầu tuần này.

Mặt bằng lãi suất sẽ ở mức thấp nhờ hạn mức tín dụng được nới

Theo số liệu từ NHNN, tính từ ngày 23/1/2020, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho trên 330.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ trên 540 nghìn tỷ đồng và đồng thời miễn, giảm, hạ lãi suất tương đương gần 30 nghìn tỷ đồng cho trên 1,8 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ trên 3,5 triệu tỷ đồng.

“NHNN tiếp tục khẳng định chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ được thực hiện trong thời gian tới và sẽ nới hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng có chất lượng tài sản và các chỉ số an toàn tốt. Nhờ vậy, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay sẽ được duy trì ở mức thấp như hiện tại” – chuyên gia của SSI Research nhận định.

Cụ thể, theo SSI Research, lãi suất huy động dao động từ 3 - 4% đối với kỳ hạn dưới 6 tháng, 3,7 - 5% đối với kỳ hạn 6 - 12 tháng và 4,2 - 6,5% đối với kỳ hạn trên 12 tháng, trong khi lãi suất cho vay dao động từ 5 - 7% đối với khoản vay ngắn hạn và 9 - 11% đối với khoản vay trên 12 tháng.

Theo thống kê, tới tới sáng 16/11, đã có 11/13 ngân hàng được nới room tín dụng đợt này. Trong đó, Techcombank và TPBank là 2 ngân hàng được cấp mức tăng trưởng tín dụng cao nhất là 17,1% và 17,4%. Một số ngân hàng được nới room tín dụng lên từ 13% - 16% gồm: MSB (16%), MB (15%), VIB (14,1%), ACB (13,1%), LPB (13,1%). Các ngân hàng còn lại được nới room lên mức từ 9,5-12,5% gồm: VCB (12,5%), VPB (12,1%), SHB (10,5%), STB (10,5%), OCB (10%), CTG (9,5%).

Tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng giảm

Tâm điểm thị trường tài chính trong tuần qua đến từ thông tin về lạm phát của Mỹ. Theo đó, dữ liệu Bộ Lao động Mỹ công bố ngày 10/11 cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của một loạt hàng hóa và dịch vụ thiết yếu trong tháng 10 tăng cao hơn nhiều so với dự đoán, đạt mức cao nhất trong vòng 30 năm qua. CPI tháng 10 tăng 6,2% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức tăng 5,9% theo dự báo của thị trường với việc giá cả đã tăng lên trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Mỹ, trong đó tăng mạnh nhất trong ngành năng lượng và thực phẩm.

Giá vàng nhờ đó đã có một tuần giao dịch tích cực, khi tăng tới 2,6% trong tuần. Giá vàng trong nước đã có tuần tăng mạnh nhất trong vòng nhiều tháng qua, khi tăng tới 3,5% so với tuần trước đó và hiện giao dịch trên 60 triệu đồng/lượng. Đồng USD cũng có diễn biến tích cực khi chỉ số Dollar-Index (DXY) tăng 0,8%, trong khi các đồng tiền chủ chốt đều giảm tương đối mạnh, như EUR -1,05%, GBP -0,62% hay CAD -0,75%. Trong khi đó, các đồng tiền trong khu vực đều tăng giá so với USD khi các nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi sau giãn cách, với mức tăng cao nhất đến từ THB +1,52%.

Tại Việt Nam, sau thông báo hạ tỷ giá mua giao ngay của NHNN vào ngày 5/11, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng đã điều chỉnh xuống mức tương đương là 22.645 đồng/USD vào phiên cuối tuần qua, tương đương mức tăng 0,23%.

Mặt bằng lãi suất sẽ ở mức thấp nhờ hạn mức tín dụng được nới

Tỷ giá niêm yết ở các NHTM cũng có diễn biến tương tự và kết tuần giao dịch ở mức 22.515/22.745 đồng (mua vào/bán ra), giảm 25 đồng ở chiều mua vào và bán ra so với tuần trước trước đó. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng có bước điều chỉnh tương đối mạnh khi giảm tới 230 đồng cho chiều mua vào và 200 đồng cho chiều bán ra, kết tuần ở 23.280/23.340 đồng.

Cán cân thanh toán tổng thể nhìn chung duy trì thặng dư nhờ lượng giải ngân FDI và lượng kiều hối tích cực, cũng như cán cân thương mại đã quay trở lại xuất siêu trong 10 tháng đầu năm. “Chúng tôi kỳ vọng đà xuất siêu sẽ tiếp tục được duy trì trong 2 tháng còn lại của năm, khi đây là giai đoạn cao điểm cho hoạt động xuất khẩu và nhờ vậy nguồn cung – cầu ngoại tệ trên thị trường cân bằng trong thời gian này, giúp tỷ giá USD/VND duy trì trạng thái ổn định hoặc có thể tiếp tục giảm nhẹ” – SSI Research dự báo./.

Thái Duy

Đọc thêm

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

(TBTCO) - Trước diễn biến phức tạp của các dịch bệnh truyền nhiễm và nhu cầu di chuyển tăng cao dịp đại lễ, Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai chương trình ưu đãi lớn tặng voucher lên đến 25% từ ngày 25/4 đến 03/5/2026. Đây là giải pháp thiết thực giúp khách hàng thiết lập "lá chắn" tài chính vững chắc ngay trên ứng dụng bảo hiểm số.
PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

(TBTCO) - PTI trình cổ đông kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, đồng thời đề xuất phương án tăng vốn hơn 600 tỷ đồng nhằm củng cố nền tảng tài chính và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

(TBTCO) - PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh năm 2026 với lợi nhuận trước thuế 1.438 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi và tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng dự kiến đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ở mức 31% và tìm “mảnh ghép” từ lĩnh vực chứng khoán nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực tăng trưởng mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,670 ▼80K 16,920 ▼80K
Kim TT/AVPL 16,670 ▼80K 16,920 ▼80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,620 ▼50K 16,920 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,600 ▼50K 15,800 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,550 ▼50K 15,750 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,340 ▼20K 16,740 ▼20K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,290 ▼20K 16,690 ▼20K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,220 ▼20K 16,670 ▼20K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
Hà Nội - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
Miền Tây - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 166,000 ▼700K 169,000 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,670 ▼80K 16,920 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 16,670 ▼80K 16,920 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 16,670 ▼80K 16,920 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,620 ▼80K 16,920 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,620 ▼80K 16,920 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,620 ▼80K 16,920 ▼80K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,110 ▼80K 16,810 ▼80K
Trang sức 99.99 16,120 ▼80K 16,820 ▼80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,667 ▼8K 16,922 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,667 ▼8K 16,923 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,665 ▼8K 169 ▼1529K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,665 ▼8K 1,691 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,645 ▼8K 1,675 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 159,342 ▼792K 165,842 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 116,888 ▼600K 125,788 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,161 ▼544K 114,061 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,435 ▼488K 102,335 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,912 ▼467K 97,812 ▼467K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,104 ▼334K 70,004 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,667 ▼8K 1,692 ▲1522K
Cập nhật: 23/04/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18300 18575 19151
CAD 18727 19005 19619
CHF 32888 33273 33918
CNY 0 3816 3908
EUR 30182 30456 31484
GBP 34726 35119 36050
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15219 15804
SGD 20087 20370 20896
THB 730 793 846
USD (1,2) 26062 0 0
USD (5,10,20) 26103 0 0
USD (50,100) 26132 26151 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,379 30,403 31,672
JPY 161.11 161.4 170.14
GBP 34,999 35,094 36,109
AUD 18,547 18,614 19,206
CAD 18,950 19,011 19,599
CHF 33,235 33,338 34,128
SGD 20,264 20,327 21,008
CNY - 3,791 3,914
HKD 3,302 3,312 3,431
KRW 16.45 17.16 18.56
THB 779.45 789.08 839.96
NZD 15,242 15,384 15,753
SEK - 2,814 2,897
DKK - 4,065 4,184
NOK - 2,789 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,234.08 - 6,997.27
TWD 756.35 - 910.99
SAR - 6,917.78 7,244.45
KWD - 83,824 88,674
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,263 30,385 31,567
GBP 34,928 35,068 36,077
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,984 33,116 34,054
JPY 161.34 161.99 169.29
AUD 18,491 18,565 19,159
SGD 20,289 20,370 20,953
THB 796 799 834
CAD 18,914 18,990 19,566
NZD 15,297 15,831
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 18488 18588 19513
CAD 18914 19014 20028
CHF 33161 33191 34778
CNY 3798.7 3823.7 3959
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30385 30415 32137
GBP 35046 35096 36864
HKD 0 3355 0
JPY 161.72 162.22 172.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15339 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20258 20388 21121
THB 0 760.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16670000 16670000 16920000
SBJ 15000000 15000000 16920000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,360
USD20 26,150 26,200 26,360
USD1 23,850 26,200 26,360
AUD 18,535 18,635 19,751
EUR 30,515 30,515 31,936
CAD 18,854 18,954 20,269
SGD 20,330 20,480 21,052
JPY 162.13 163.63 169.5
GBP 34,929 35,279 36,420
XAU 16,748,000 0 17,002,000
CNY 0 3,704 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/04/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80