Ngân hàng dồi dào tiền, nhưng lãi suất cho vay vẫn giảm... “nhỏ giọt”

Chí Tín
(TBTCO) - Tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn chậm và lượng tiền trong hệ thống ngân hàng đang rất dồi dào. Tuy nhiên, lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, chưa đạt kỳ vọng của các doanh nghiệp.
aa
Ngân hàng dồi dào tiền, nhưng lãi suất cho vay vẫn giảm... “nhỏ giọt”
Lãi suất cho vay là do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn trên thị trường. Ảnh: TL

Lãi suất đã giảm, nhưng vẫn còn cao

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến giữa tháng 9/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 12,6 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 5,56%. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống vẫn thấp so với cùng kỳ các năm trước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các yếu tố khách quan như: Cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng giảm. Một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, nhất là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác động từ khả năng hấp thụ tín dụng của nhóm doanh nghiệp bất động sản…

Ngoài ra sau thời gian kinh tế gặp khó khăn, mức độ rủi ro bị đánh giá cao hơn, khi hoạt động của doanh nghiệp khó chứng minh hiệu quả (chi phí đầu vào, nguyên vật liệu nhập khẩu cao, thị trường đầu ra, đơn hàng, doanh thu giảm...).

Trong bối cảnh này, thời gian qua, quan điểm của NHNN là vẫn định hướng để các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế, thể hiện ở 4 đợt giảm lãi suất điều hành kể từ đầu năm 2023. Theo đó, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm. Cụ thể, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới giảm khoảng hơn 1,3% so với cuối năm 2022. Tuy nhiên so với thời điểm giữa năm 2022, phản ánh của nhiều doanh nghiệp cho thấy, lãi suất cho vay hiện vẫn còn cao. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong việc cân đối các khoản chi phí tài chính.

Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Tổng giám đốc Công ty Nagakawa cho biết, chi phí tài chính của công ty chiếm 3 - 4% (trong đó, chi phí lãi suất chiếm 60 - 70% trong chi phí tài chính) và lãi suất cao là yếu tố rất ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Thực tế đối chiếu mặt bằng lãi suất trong vòng hơn 1 năm qua cho thấy, dù sau 4 lần giảm lãi suất điều hành, mặt bằng lãi suất tuy có giảm so với thời đỉnh điểm cuối năm 2022, nhưng vẫn còn ở mức cao hơn khá nhiều so với điểm giữa năm 2022. Cụ thể, theo công bố diễn biến lãi suất hàng tháng tại thời điểm tháng 7/2022, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước ở mức 7,9 - 9,3%/năm.

Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,4%/năm. Trong khi đó vào tháng 7/2023, lãi suất cho vay bình quân ở mức 9,3 - 11,4%/năm, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,2%/năm.

Các con số này cho thấy, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên thời điểm tháng 7/2023 đã giảm hơn so với 1 năm trước đó. Nhưng lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực thông thường vẫn ở mặt bằng cao hơn khá nhiều so với 1 năm trước.

Vẫn phải chờ độ trễ

Trong bối cảnh hiện tại, lãnh đạo NHNN cũng tiếp tục yêu cầu các ngân hàng đẩy mạnh triển khai hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vừa qua, Thống đốc NHNN cũng nhắc nhở các ngân hàng rà soát, thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, tiết giảm chi phí, giảm lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ; tham mưu để có thể điều chỉnh tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống.

Cùng với đó, các ngân hàng cũng phải chủ động xây dựng các chương trình, sản phẩm tín dụng với lãi suất hợp lý, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng, phân khúc khách hàng.

Thực tế cho thấy, lãi suất cho vay là do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn trên thị trường, nhu cầu vốn vay, mức độ tín nhiệm... Một trong những lý do khiến lãi suất chưa hạ là do nhiều khoản vay ký hợp đồng tại thời điểm mặt bằng lãi suất cao cuối năm 2022, đầu năm 2023 đến nay vẫn còn hợp đồng.

Đối với một số doanh nghiệp gặp khó khăn và tình hình tài chính sa sút hơn so với năm trước thì vô tình điểm tín nhiệm cũng bị hạ xuống thấp hơn và theo công thức tính toán hệ số rủi ro thì tín nhiệm giảm lại làm lãi suất phải tăng lên để phù hợp với rủi ro. Trong khi đó, hiện tại các ngân hàng cũng khá “bối rối” trong quyết định cho vay do không hạ được chuẩn tín dụng để đảm bảo an toàn hệ thống.

Trong bối cảnh hiện tại, NHNN cũng không cấm các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để trả nợ khoản vay cũ. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo sự cạnh tranh giữa các ngân hàng tạo nên áp lực giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, thực tế cũng vẫn có những khó khăn nhất định. Trong đó, doanh nghiệp khi trả nợ khoản cũ cũng bị vướng vào các quy định về phạt trả nợ trước hạn trong các hợp đồng tín dụng đã ký.

Ông Lê Vĩnh Sơn - đại diện Hiệp hội Sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn TP. Hà Nội cho biết, thực tế cho thấy doanh nghiệp trả nợ trước thường chịu phạt lãi trả trước 1 - 5%. Theo đó, ông Sơn kiến nghị các ngân hàng nên miễn phí trả nợ trước hạn, hoặc chỉ áp dụng mức khoảng 1% thay vì để phí cao như hiện nay.

Theo NHNN, hiện nay các ngân hàng cũng có đưa ra các cam kết về giảm lãi suất cho vay với khách hàng và theo diễn biến của độ trễ chính sách thì mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục giảm thời gian tới. Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng thuộc NHNN, cho biết, dù toàn ngành Ngân hàng đã nỗ lực thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp, trong đó nhiều giải pháp được thực hiện bằng chính nguồn lực của tổ chức tín dụng, song việc cung ứng và tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp trên cả nước nói chung vẫn có những khăn, thách thức.

Ở một diễn biến khác, hiện đã có 13 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô khoảng 15.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Đến nay, doanh số giải ngân đạt gần 5.500 tỷ đồng (bằng 37% tổng số tiền cam kết cho vay theo chương trình), cho 2.000 lượt khách hàng vay vốn.

Hướng dẫn lãi suất chương trình nhà ở xã hội

Ngân hàng Nhà nước cho biết đã yêu cầu các ngân hàng có văn bản hướng dẫn cụ thể các nội dung chính về lãi suất, thời gian ưu đãi để triển khai chương trình 120.000 tỷ đồng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33 của Chính phủ. Hiện, BIDV và Agribank đã ký hợp đồng tín dụng tài trợ 3 dự án nhà ở xã hội tại tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Ninh với số tiền giải ngân đạt 82,7 tỷ đồng.

Chí Tín

Đọc thêm

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

(TBTCO) - Hơn cả một giải pháp tài chính, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang cùng đối tác chiến lược Sun Group tái định nghĩa trải nghiệm ngân hàng với tư duy đổi mới và sản phẩm tiên phong. Mỗi giải pháp ngân hàng không chỉ mang lại hiệu quả tài chính mà còn mở ra cánh cửa bước vào hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam, cùng khách hàng tận hưởng một phong cách sống tinh hoa và trọn vẹn thấu cảm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17809 18082 18661
CAD 18180 18456 19069
CHF 31823 32204 32850
CNY 0 3836 3928
EUR 29418 29639 30717
GBP 34565 34957 35899
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15020 15607
SGD 19814 20096 20662
THB 697 760 813
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,060 26,060 26,440
USD(1-2-5) 25,018 - -
USD(10-20) 25,018 - -
EUR 29,530 29,554 30,965
JPY 157.17 157.45 166.95
GBP 34,735 34,829 36,039
AUD 18,031 18,096 18,777
CAD 18,356 18,415 19,094
CHF 32,068 32,168 33,115
SGD 19,918 19,980 20,765
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,280 3,290 3,428
KRW 16.38 17.08 18.58
THB 745.12 754.32 807.55
NZD 15,014 15,153 15,601
SEK - 2,674 2,769
DKK - 3,950 4,089
NOK - 2,666 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,008.13 - 6,782.2
TWD 734.41 - 889.63
SAR - 6,868.07 7,238.02
KWD - 83,059 88,370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18005 18105 19028
CAD 18348 18448 19462
CHF 32058 32088 33678
CNY 3815.4 3840.4 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29585 29615 31340
GBP 34859 34909 36667
HKD 0 3355 0
JPY 158.14 158.64 169.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20814
THB 0 725.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80