Ngân hàng dồi dào tiền, nhưng lãi suất cho vay vẫn giảm... “nhỏ giọt”

Chí Tín
(TBTCO) - Tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn chậm và lượng tiền trong hệ thống ngân hàng đang rất dồi dào. Tuy nhiên, lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, chưa đạt kỳ vọng của các doanh nghiệp.
aa
Ngân hàng dồi dào tiền, nhưng lãi suất cho vay vẫn giảm... “nhỏ giọt”
Lãi suất cho vay là do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn trên thị trường. Ảnh: TL

Lãi suất đã giảm, nhưng vẫn còn cao

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến giữa tháng 9/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 12,6 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 5,56%. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống vẫn thấp so với cùng kỳ các năm trước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các yếu tố khách quan như: Cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng giảm. Một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, nhất là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác động từ khả năng hấp thụ tín dụng của nhóm doanh nghiệp bất động sản…

Ngoài ra sau thời gian kinh tế gặp khó khăn, mức độ rủi ro bị đánh giá cao hơn, khi hoạt động của doanh nghiệp khó chứng minh hiệu quả (chi phí đầu vào, nguyên vật liệu nhập khẩu cao, thị trường đầu ra, đơn hàng, doanh thu giảm...).

Trong bối cảnh này, thời gian qua, quan điểm của NHNN là vẫn định hướng để các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế, thể hiện ở 4 đợt giảm lãi suất điều hành kể từ đầu năm 2023. Theo đó, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm. Cụ thể, lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới giảm khoảng hơn 1,3% so với cuối năm 2022. Tuy nhiên so với thời điểm giữa năm 2022, phản ánh của nhiều doanh nghiệp cho thấy, lãi suất cho vay hiện vẫn còn cao. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong việc cân đối các khoản chi phí tài chính.

Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Tổng giám đốc Công ty Nagakawa cho biết, chi phí tài chính của công ty chiếm 3 - 4% (trong đó, chi phí lãi suất chiếm 60 - 70% trong chi phí tài chính) và lãi suất cao là yếu tố rất ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Thực tế đối chiếu mặt bằng lãi suất trong vòng hơn 1 năm qua cho thấy, dù sau 4 lần giảm lãi suất điều hành, mặt bằng lãi suất tuy có giảm so với thời đỉnh điểm cuối năm 2022, nhưng vẫn còn ở mức cao hơn khá nhiều so với điểm giữa năm 2022. Cụ thể, theo công bố diễn biến lãi suất hàng tháng tại thời điểm tháng 7/2022, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước ở mức 7,9 - 9,3%/năm.

Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,4%/năm. Trong khi đó vào tháng 7/2023, lãi suất cho vay bình quân ở mức 9,3 - 11,4%/năm, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,2%/năm.

Các con số này cho thấy, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên thời điểm tháng 7/2023 đã giảm hơn so với 1 năm trước đó. Nhưng lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực thông thường vẫn ở mặt bằng cao hơn khá nhiều so với 1 năm trước.

Vẫn phải chờ độ trễ

Trong bối cảnh hiện tại, lãnh đạo NHNN cũng tiếp tục yêu cầu các ngân hàng đẩy mạnh triển khai hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vừa qua, Thống đốc NHNN cũng nhắc nhở các ngân hàng rà soát, thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, tiết giảm chi phí, giảm lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ; tham mưu để có thể điều chỉnh tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống.

Cùng với đó, các ngân hàng cũng phải chủ động xây dựng các chương trình, sản phẩm tín dụng với lãi suất hợp lý, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng, phân khúc khách hàng.

Thực tế cho thấy, lãi suất cho vay là do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn trên thị trường, nhu cầu vốn vay, mức độ tín nhiệm... Một trong những lý do khiến lãi suất chưa hạ là do nhiều khoản vay ký hợp đồng tại thời điểm mặt bằng lãi suất cao cuối năm 2022, đầu năm 2023 đến nay vẫn còn hợp đồng.

Đối với một số doanh nghiệp gặp khó khăn và tình hình tài chính sa sút hơn so với năm trước thì vô tình điểm tín nhiệm cũng bị hạ xuống thấp hơn và theo công thức tính toán hệ số rủi ro thì tín nhiệm giảm lại làm lãi suất phải tăng lên để phù hợp với rủi ro. Trong khi đó, hiện tại các ngân hàng cũng khá “bối rối” trong quyết định cho vay do không hạ được chuẩn tín dụng để đảm bảo an toàn hệ thống.

Trong bối cảnh hiện tại, NHNN cũng không cấm các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để trả nợ khoản vay cũ. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo sự cạnh tranh giữa các ngân hàng tạo nên áp lực giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, thực tế cũng vẫn có những khó khăn nhất định. Trong đó, doanh nghiệp khi trả nợ khoản cũ cũng bị vướng vào các quy định về phạt trả nợ trước hạn trong các hợp đồng tín dụng đã ký.

Ông Lê Vĩnh Sơn - đại diện Hiệp hội Sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn TP. Hà Nội cho biết, thực tế cho thấy doanh nghiệp trả nợ trước thường chịu phạt lãi trả trước 1 - 5%. Theo đó, ông Sơn kiến nghị các ngân hàng nên miễn phí trả nợ trước hạn, hoặc chỉ áp dụng mức khoảng 1% thay vì để phí cao như hiện nay.

Theo NHNN, hiện nay các ngân hàng cũng có đưa ra các cam kết về giảm lãi suất cho vay với khách hàng và theo diễn biến của độ trễ chính sách thì mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục giảm thời gian tới. Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng thuộc NHNN, cho biết, dù toàn ngành Ngân hàng đã nỗ lực thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp, trong đó nhiều giải pháp được thực hiện bằng chính nguồn lực của tổ chức tín dụng, song việc cung ứng và tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp trên cả nước nói chung vẫn có những khăn, thách thức.

Ở một diễn biến khác, hiện đã có 13 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô khoảng 15.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Đến nay, doanh số giải ngân đạt gần 5.500 tỷ đồng (bằng 37% tổng số tiền cam kết cho vay theo chương trình), cho 2.000 lượt khách hàng vay vốn.

Hướng dẫn lãi suất chương trình nhà ở xã hội

Ngân hàng Nhà nước cho biết đã yêu cầu các ngân hàng có văn bản hướng dẫn cụ thể các nội dung chính về lãi suất, thời gian ưu đãi để triển khai chương trình 120.000 tỷ đồng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33 của Chính phủ. Hiện, BIDV và Agribank đã ký hợp đồng tín dụng tài trợ 3 dự án nhà ở xã hội tại tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Ninh với số tiền giải ngân đạt 82,7 tỷ đồng.

Chí Tín

Đọc thêm

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

(TBTCO) - PJICO đặt kế hoạch năm 2026 với doanh thu phí bảo hiểm 5.238 tỷ đồng, tăng 8% và phấn đấu 10%, lợi nhuận trước thuế 324,5 tỷ đồng, tăng 6% và hướng tới 8%; chia cổ tức bằng tiền mặt 12%. Trước kỳ vọng tăng trưởng hai con số từ cổ đông, lãnh đạo PJICO nhấn mạnh, chiến lược của PJICO là phát triển an toàn, bền vững và hiệu quả, không đặt trọng tâm vào tăng trưởng về doanh thu, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và còn nhiều rủi ro.
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▼70K 17,280 ▼20K
Kim TT/AVPL 16,980 ▼30K 17,280 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▼20K 17,280 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 ▼70K 15,730 ▼70K
Nguyên Liệu 99.9 15,480 ▼70K 15,680 ▼70K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,440 ▲30K 16,840 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,390 ▲30K 16,790 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,320 ▲30K 16,770 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Hà Nội - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Miền Tây - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
NL 99.90 15,450 ▼180K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼180K
Trang sức 99.9 16,490 ▲30K 17,190 ▲30K
Trang sức 99.99 16,500 ▲30K 17,200 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1535K 17,352 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1535K 17,353 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,697 ▼5K 1,732 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,697 ▼5K 1,733 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,677 ▼5K 1,717 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,635 ▼161370K 170 ▼169335K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,038 ▲375K 128,938 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,018 ▲340K 116,918 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,997 ▲305K 104,897 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,361 ▲82254K 100,261 ▲90264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,856 ▲208K 71,756 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cập nhật: 15/04/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18266 18541 19122
CAD 18589 18866 19479
CHF 33025 33411 34061
CNY 0 3800 3870
EUR 30386 30661 31686
GBP 34881 35274 36208
HKD 0 3230 3432
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15224 15809
SGD 20156 20439 20967
THB 735 798 852
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,358
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,589 30,613 31,864
JPY 161.7 161.99 170.64
GBP 35,153 35,248 36,226
AUD 18,509 18,576 19,151
CAD 18,819 18,879 19,445
CHF 33,375 33,479 34,235
SGD 20,334 20,397 21,064
CNY - 3,798 3,917
HKD 3,303 3,313 3,429
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 783.69 793.37 844.87
NZD 15,239 15,380 15,731
SEK - 2,823 2,904
DKK - 4,093 4,209
NOK - 2,751 2,833
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,240.42 - 7,003.82
TWD 753.82 - 906.6
SAR - 6,920.85 7,241.78
KWD - 83,916 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26358
AUD 18446 18546 19472
CAD 18761 18861 19875
CHF 33264 33294 34873
CNY 3800 3825 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32321
GBP 35176 35226 36986
HKD 0 3355 0
JPY 162.12 162.62 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15324 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20311 20441 21172
THB 0 763.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80