Những mảng màu sáng tối nhìn từ bức tranh tài chính của giới ngân hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Đến thời điểm này, phần lớn các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý II. Các con số kinh doanh của nhiều ngân hàng đơn lẻ, cũng như con số tăng trưởng chung toàn ngành cho thấy bối cảnh chung khá tích cực. Tuy nhiên, trong bức tranh chung đó vẩn ẩn hiện những con số cho thấy các ngân hàng cũng cần “cảnh giác” trong việc duy trì và cải thiện sức khỏe tài chính.
aa

Các con số lạc quan

Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước định hướng tín dụng tăng khoảng 14%, cao hơn mức tăng 13,61% trong năm 2021 và 12,17% năm 2020. Tính đến 30/6/2022, tín dụng đã tăng 9,35%, cao hơn so với mức tăng của 6 tháng đầu năm của cả những năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Trong đó, việc tín dụng tăng trưởng mạnh cũng là yếu tố nền tảng cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận.

Một số ngân hàng đạt lợi nhuận tăng trưởng cao trong 6 tháng đầu năm 2022 có thể kể đến là Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)....

Nhiều ngân hàng đã tối ưu lợi nhuận nhờ gia tăng dịch vụ thanh toán.
Nhiều ngân hàng đã tối ưu lợi nhuận nhờ gia tăng dịch vụ thanh toán.

Theo đó, các ngân hàng TMCP nhà nước (Vietcombank, VietinBank, BIDV) vẫn giữ được vai trò dẫn dắt về lợi nhuận trong thời gian qua, khi đều ghi nhận tăng trưởng cao và tỷ lệ an toàn tài chính cũng giữ ở mức khá tốt. VietinBank cho thấy một kỳ kinh doanh thu hoạch tốt khi ghi nhận lợi nhuận sau thuế quý II/2022 lên tới 4.681 tỷ đồng, tăng trưởng mạnh tới gấp hơn 2 lần so với kết quả lợi nhuận sau thuế cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2022, lợi nhuận sau thuế của VietinBank đạt 9.379 tỷ đồng, tăng trưởng khoảng gần 8% so với nửa đầu năm 2021.

Vietcombank cũng đạt kết quả tăng trưởng lợi nhuận cũng khá ấn tượng, ghi nhận lợi nhuận sau thuế quý II/2022 đạt 5.937 tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế lũy kế 6 tháng đạt 13.909 tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 28% so với cùng kỳ.

Trong khi đó, BIDV cũng ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất 6 tháng đầu năm đạt tới 11.084 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 53,8% kế hoạch năm. Một số chỉ tiêu tài chính khác của BIDV cho thấy, tổng tài sản hợp nhất cuối quý II/2022 đạt trên 1,98 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 12,4% so với đầu năm; cho vay khách hàng đạt trên 1,48 triệu tỷ đồng, tăng 9,5% so với đầu năm... Tỷ lệ trang trải nợ xấu của ngân hàng này đạt 279%, mức cao nhất từ trước đến nay, tăng so với mức 235% thời điểm 31/12/2021.

Ẩn hiện những “điểm gợn”

Đánh giá về tình hình kinh doanh của các ngân hàng, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, thời gian qua các ngân hàng gia tăng được lợi nhuận một phần nhờ thực hiện các giải pháp số hóa, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, tiết giảm chi phí… Thực tế, nhiều ngân hàng đã tối ưu lợi nhuận nhờ gia tăng dịch vụ thanh toán, qua đó tăng tỷ lệ vốn từ tiền gửi không kỳ hạn nên giảm đáng kể chi phí huy động vốn. Trong 6 tháng đầu năm 2022: Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 77,2% về số lượng và 29,8% về giá trị; qua internet tăng tương ứng 63,2% và 32,3%; qua điện thoại di động tăng tương ứng 98,3% và 84,3%; qua QR code tăng 86% và 127% (so với cùng kỳ năm 2021).

Các ngân hàng đang đẩy mạnh phát triển mạng lưới

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của hệ thống ngân hàng thương mại bình quân/100.000 người trưởng thành đạt 15,31 đơn vị; tỷ lệ xã/thị trấn có điểm cung ứng dịch vụ tài chính trên tổng số xã/thị trấn trên toàn quốc (không bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội) đạt 32,13%. Số lượng máy ATM bình quân/100.000 người trưởng thành đạt 27,70 máy; số lượng máy POS bình quân/100.000 người trưởng thành đạt 439,26 máy. Ngân hàng Nhà nước cho biết, đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán đẩy mạnh cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính phục vụ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nông thôn; phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ gia đình sản xuất kinh doanh...

Tuy nhiên, trong bức tranh chung vẫn có những ngân hàng không hoàn toàn đạt được tăng trưởng tốt, thực tế vẫn có những ngân hàng phải chấp nhận sụt giảm lợi nhuận. Chẳng hạn như, Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) ghi nhận lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm 2022 là 1.392 tỷ đồng, giảm khoảng 18% so với nửa đầu năm 2021. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng giảm 309 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế quý II/2022 so với cùng kỳ năm trước. Trong giai đoạn này, thu nhập lãi thuần và các khoản thu nhập tương tự của Sacombank bị giảm 472,2 tỷ đồng.

Nhìn vào “thể trạng” chung của các ngân hàng thì nhà đầu tư có thể không chỉ “hút” vào các con số lợi nhuận, mà nhiều chỉ tiêu tài chính khác cũng rất đáng chú ý để đánh giá sức khỏe của các ngân hàng. Một số ngân hàng đang có tín hiệu “nhúc nhích” tăng nợ xấu, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) đã phải tăng trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng từ 1.366 tỷ đồng lên 1.656 tỷ đồng. So sánh mối tương ứng với tăng trưởng tín dụng, nợ xấu của Eximbank đang nhích tăng từ mức khoảng 1,18% thời điểm cuối năm 2021 lên mức khoảng 1,33% vào giữa năm 2022.

Ngoài ra, từ ngày 30/6/2022 đã hết thời gian được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng, theo Thông tư 14/2021/TT-NHNN về giãn, hoãn nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Theo đó sau thời điểm này, nhiều khoản nợ khách hàng gặp khó khăn như trước đây sẽ không được tiếp tục tái cơ cấu, nếu khách hàng vẫn không có khả năng trả nợ sẽ bị chuyển thành nợ xấu. Hay nói cách khác, một số khoản nợ của một số ngân hàng trước đây vẫn ở dạng “nợ xấu ẩn” có thể sẽ phải lộ ra trong thời gian tới.

Chí Tín

Đọc thêm

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang từng bước khẳng định vai trò đồng hành cùng ngành du lịch qua việc phát triển các giải pháp thanh toán số an toàn, thuận tiện, góp phần tháo gỡ rào cản chi tiêu, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh.
Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88

Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88

(TBTCO) - Làm thế nào để mở lối tiếp cận vốn an toàn cho 18 triệu người "dưới chuẩn" ngân hàng mà không biến họ thành nạn nhân của tín dụng đen? Báo cáo ESG đầu tiên của F88 đã đưa ra lời giải bằng một tư duy khác biệt: Lợi nhuận bền vững phải được sinh ra từ sự minh bạch tối đa và trách nhiệm bảo vệ sinh kế cho người lao động.
Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi

Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi

(TBTCO) - Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi Bám sát nhu cầu quản lý tài chính ngày càng đa dạng của khách hàng, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức ra mắt sản phẩm “Tiết kiệm bậc thang” với mức sinh lời lũy kế hấp dẫn theo số dư tiền gửi, áp dụng cho đa dạng đối tượng khách hàng và không giới hạn số lượng sổ tiết kiệm, mở ra cơ hội gia tăng hiệu quả sinh lời cho các nhu cầu tích lũy dài hạn.
Báo chí vun đắp "vốn quý" cho sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm

Báo chí vun đắp "vốn quý" cho sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Khi niềm tin trở thành "vốn quý" của thị trường bảo hiểm, vai trò của báo chí không chỉ dừng ở việc đưa tin, mà còn là "tấm gương phản chiếu", thúc đẩy trách nhiệm giải trình và lan tỏa những giá trị tích cực. Sự đồng hành giữa báo chí, cơ quan quản lý và doanh nghiệp đang tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường.
Đồng điệu nhịp cải cách, tạo lực đẩy cho thị trường bảo hiểm

Đồng điệu nhịp cải cách, tạo lực đẩy cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau giai đoạn chững lại để tái cấu trúc, thị trường bảo hiểm đang dần lấy lại đà tăng trưởng, nhờ sự đồng điệu giữa cải cách thể chế và nỗ lực đổi mới từ doanh nghiệp. Nhiều điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính được cắt giảm, cùng việc mở rộng dư địa hoạt động tạo thêm động lực tăng trưởng cho toàn ngành.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,270 ▼130K 13,470 ▼130K
Nguyên Liệu 99.9 13,220 ▼130K 13,420 ▼130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▼50K 14,600 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▼50K 14,550 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▼50K 14,530 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
Hà Nội - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
Miền Tây - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,900 ▼600K 147,900 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼60K 14,800 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,480 ▼60K 14,780 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,480 ▼60K 14,780 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,480 ▼60K 14,780 ▼60K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,970 ▼60K 14,670 ▼60K
Trang sức 99.99 13,980 ▼60K 14,680 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1311K 14,802 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1311K 14,803 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼6K 1,479 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼6K 148 ▼1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼124750K 14,495 ▼131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▼450K 109,961 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▲81150K 99,712 ▲89700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▼366K 89,463 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼35K 8,551 ▼35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▼250K 61,205 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1311K 148 ▼1338K
Cập nhật: 23/06/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17845 18119 18692
CAD 18054 18329 18942
CHF 31909 32290 32925
CNY 0 3844 3937
EUR 29444 29665 30743
GBP 34056 34446 35372
HKD 0 3227 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14707 15292
SGD 19812 20093 20666
THB 714 777 830
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,946
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,251 34,344 35,447
AUD 18,066 18,131 18,770
CAD 18,250 18,309 18,941
CHF 32,169 32,269 33,135
SGD 19,939 20,001 20,744
CNY - 3,814 3,950
HKD 3,292 3,302 3,432
KRW 15.79 16.47 17.87
THB 761.66 771.07 823.59
NZD 14,696 14,832 15,234
SEK - 2,689 2,778
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,667 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,952.8 - 6,702.47
TWD 751.19 - 907.29
SAR - 6,897.15 7,247.79
KWD - 83,335 88,458
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26130 26448
AUD 18037 18137 19065
CAD 18229 18329 19345
CHF 32133 32163 33753
CNY 3824.2 3849.2 3984.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29616 29646 31371
GBP 34345 34395 36156
HKD 0 3355 0
JPY 159.36 159.86 170.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14803 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19963 20093 20815
THB 0 742.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,448
USD20 26,147 26,197 26,448
USD1 23,930 26,197 26,448
AUD 18,080 18,180 19,287
EUR 29,759 29,759 31,168
CAD 18,176 18,276 19,582
SGD 20,038 20,188 20,751
JPY 159.86 161.36 165.92
GBP 34,238 34,588 35,703
XAU 14,558,000 0 14,862,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/06/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80