Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm

Anh Tú
(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy đến cuối tháng 9/2024, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 4,55%, gần bằng mức cuối năm 2023 nhưng tăng so với mức 2% của năm 2022. Áp lực nợ xấu đang gia tăng ở nhiều các ngân hàng trong khi bộ đệm dự phòng của các nhà băng đang mỏng dần, chỉ tương đương mức trước Covid-19 (năm 2019).
aa
Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm
Nguồn: Widata.vn. Đồ họa tư liệu

Lý giải nguyên nhân nợ xấu gia tăng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng nhiều khách hàng khó khăn từ dịch Covid -19, mới khôi phục lại sản xuất kinh doanh do được áp dụng các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới, lại tiếp tục thiệt hại do cơn bão số 3 nên hầu như không có khả năng khắc phục, không đáp ứng các điều kiện vay mới, dẫn tới nguy cơ nợ xấu gia tăng.

Thông tư 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn sẽ hết hiệu lực vào cuối năm nay. Điều này cũng dấy lên nỗi lo nợ xấu ẩn mình dưới dạng cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ sẽ phơi bày trong khi bộ đệm dự phòng nợ xấu của các ngân hàng trong xu hướng giảm.

Toàn cảnh bức tranh nợ xấu

Tính đến hết quý III/2024, nợ xấu các ngân hàng đang niêm yết khoảng 250 nghìn tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 2,26%, tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với quý trước song vẫn trong xu hướng tăng từ quý IV/2022 đến nay; còn lại “tảng băng chìm” phần lớn ở khối chưa niêm yết hay các bên đang tái cơ cấu.

Soi kỹ bức tranh nợ xấu quý III/2024 của ngành Ngân hàng cho thấy nợ xấu đang tăng nhẹ ở các nhóm ngân hàng. Trong nhóm các ngân hàng quốc doanh, mức nợ xấu của BIDV tăng mạnh. Với các ngân hàng nhóm cho vay doanh nghiệp, mức nợ xấu cũng tiếp tục đà tăng, ngoại trừ HDBank và Maritime Bank. Ở nhóm cá nhân, hai ngân hàng có mức dư nợ gia tăng nhiều nhất cũng có nợ xấu tăng nhiều nhất, đó là VIB và TPBank. Ở nhóm các ngân hàng khác, nợ xấu tăng mạnh ở BaoVietBank và giảm mạnh ở VietABank.

Phân hoá rõ nét tỷ lệ bao phủ nợ xấu

“Tỷ lệ bao phủ nợ xấu không còn dày và chỉ tương đương trước Covid-19. Các ngân hàng thương mại tư nhân quy mô nhỏ có bộ đệm dự phòng thấp hơn nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng có thể sẽ duy trì chi phí trích lập dự phòng ở mức cao để làm dày bộ đệm dự phòng của mình”. Ông Cao Việt Hùng - Giám đốc phân tích ngành tài chính tại Công ty Chứng khoán ACB.

Cụ thể, trong nhóm quốc doanh, chỉ số nợ xấu BIDV quý III/2024 đạt 1,71%, tăng 19 điểm cơ bản so với quý trước và 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) quý 3/2024 tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm qua là 115,7% (giảm 16 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 43 điểm phần trăm so với cùng kỳ).

Trong nhóm chuyên cho vay doanh nghiệp, MBBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu đạt 2,23%, tương ứng gần 16.000 tỷ đồng, tăng 60 điểm cơ bản so với quý trước và 35 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ xấu quý 3/2024 tăng so với quý trước chủ yếu do nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) lên tới trên 6.000 tỷ đồng tăng 65% so với quý trước; nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) tăng 51%, lên trên 5.500 tỷ đồng; nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) hơn 4.000 tỷ đồng, tăng 59%. Trong khi đó, tỷ lệ LLR hợp nhất đạt 68,8% (giảm 33 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 53 điểm phần trăm so với cùng kỳ), thấp hơn nhiều năm gần đây.

Với nhóm cho vay cá nhân, nợ xấu quý III/2024 của VIB khoảng 11.460 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 3,85%, tăng 19 điểm cơ bản so với quý trước và tăng 17 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ nợ của VIB giảm còn 47,15%.

Đệm dự phòng chỉ tương đương trước Covid-19

Trong bối cảnh nợ xấu vẫn trên đà tăng, chất lượng tài sản tại nhiều nhà băng duy trì ở mức tương đối xấu trong quý III/2024.

Nợ tái cơ cấu theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN chiếm tỷ trọng khoảng 0,8%, NHNN cho phép kéo dài thời gian tái cơ cấu nợ đến hết năm 2024, qua đó, giúp giảm bớt áp lực lên chất lượng tài sản của các ngân hàng. Cũng theo ông Hùng, việc cơ cấu nợ không làm giảm chi phí trích lập dự phòng, do các ngân hàng vẫn phải trích lập 100% nợ tái cơ cấu đến cuối năm 2024.

Chưa kịp gượng dậy sau bão dịch, quý III/2024 vừa qua là thời điểm nhiều doanh nghiệp, khách hàng vay vốn chịu thiệt hại bởi cơn bão số 3 Yagi, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng. Thống kê của NHNN cho thấy số lượng khách hàng của các ngân hàng chịu ảnh hưởng của cơn bão số 3 khá lớn, khoảng 192 nghìn khách hàng. Trong đó, nhiều khách hàng bị thiệt hại lớn, thậm chí thiệt hại toàn bộ về tài sản hình thành từ vốn vay, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.

Theo ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia tài chính về ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống hiện ở mức khoảng 5%, phản ánh áp lực gia tăng từ các khoản vay trong lĩnh vực bất động sản, tiêu dùng và nông nghiệp, đặc biệt sau thiệt hại do cơn bão Yagi. Nhiều khách hàng trong khu vực bị ảnh hưởng đã không thể hoàn trả nợ đúng hạn, khiến tỷ lệ nợ xấu ở một số ngân hàng địa phương gia tăng.

Cũng theo vị chuyên gia này, khi Thông tư 06/2024/TT-NHNN hết hiệu lực, các khoản nợ tái cơ cấu sẽ phải chuyển nhóm, làm tăng nợ xấu danh nghĩa. Trong khi đó, bộ đệm dự phòng nợ xấu của các ngân hàng vốn đã giảm do lợi nhuận bị bào mòn bởi trích lập dự phòng, nay sẽ tiếp tục chịu áp lực. “Các ngân hàng cần tập trung vào tăng cường trích lập dự phòng, đồng thời đẩy mạnh thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để giám sát chặt chẽ danh mục tín dụng, giúp phát hiện kịp thời các khoản vay có dấu hiệu rủi ro” - ông Ân khuyến nghị.

Lo nợ xấu, lãi suất khó giảm sâu

Từ năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-19 để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng với mọi mặt của hoạt động kinh tế - xã hội, sức khoẻ doanh nghiệp và người dân bị bào mòn. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường vẫn ở mức cao và liên tục tăng từ 2020 đến nay. Riêng 10 tháng năm 2024, tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vượt mức cả năm 2023 (172.600 doanh nghiệp) với con số 173.200 doanh nghiệp, tăng 18,4% so với cùng kỳ.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp 8 của Quốc hội về lĩnh vực ngân hàng tuần qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, do sụt giảm nguồn thu đáng kể sau dịch bệnh nên số lượng doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn trong trả nợ vay ngân hàng và không trả được nợ tăng cao. Để kiểm soát số nợ xấu này, lãnh đạo NHNN nêu rõ nhiều giải pháp.

“Từ góc độ các tổ chức tín dụng, khi cho vay, ngân hàng cần thẩm định, đánh giá kỹ lưỡng về khả năng trả nợ của khách hàng vay để đảm bảo kiểm soát nợ xấu mới phát sinh” - Thống đốc Nguyễn Thị Hồng lưu ý.

Với nợ xấu hiện hữu, tích cực xử lý nợ xấu thông qua đôn đốc khách hàng trả nợ cũng như thu nợ hoặc phát mại tài sản song vẫn rất khó khăn, dù NHNN cũng đã có khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Công ty TNHH Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), các công ty mua bán nợ tham gia xử lý nợ xấu.

Nợ xấu có nghĩa là khi khách hàng không trả được nợ, trong khi đó tiền cho vay là tiền huy động của người dân và tổ chức tín dụng vẫn phải trả lãi cho người dân. Trường hợp nợ xấu vẫn tiếp tục tăng cao và khó có thể giải quyết được, theo Thống đốc, ngân hàng sẽ khó giảm lãi suất cho vay, thậm chí có thể phải tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí dự phòng. Đến nay hệ thống các tổ chức tín dụng đã dành nguồn lực tài chính của mình giảm khoảng từ 50.000 - 60.000 tỷ đồng giảm lãi suất cho các khách hàng.

Anh Tú

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 27/07/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80