Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm

Anh Tú
(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy đến cuối tháng 9/2024, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 4,55%, gần bằng mức cuối năm 2023 nhưng tăng so với mức 2% của năm 2022. Áp lực nợ xấu đang gia tăng ở nhiều các ngân hàng trong khi bộ đệm dự phòng của các nhà băng đang mỏng dần, chỉ tương đương mức trước Covid-19 (năm 2019).
aa
Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm
Nguồn: Widata.vn. Đồ họa tư liệu

Lý giải nguyên nhân nợ xấu gia tăng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng nhiều khách hàng khó khăn từ dịch Covid -19, mới khôi phục lại sản xuất kinh doanh do được áp dụng các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới, lại tiếp tục thiệt hại do cơn bão số 3 nên hầu như không có khả năng khắc phục, không đáp ứng các điều kiện vay mới, dẫn tới nguy cơ nợ xấu gia tăng.

Thông tư 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn sẽ hết hiệu lực vào cuối năm nay. Điều này cũng dấy lên nỗi lo nợ xấu ẩn mình dưới dạng cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ sẽ phơi bày trong khi bộ đệm dự phòng nợ xấu của các ngân hàng trong xu hướng giảm.

Toàn cảnh bức tranh nợ xấu

Tính đến hết quý III/2024, nợ xấu các ngân hàng đang niêm yết khoảng 250 nghìn tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 2,26%, tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với quý trước song vẫn trong xu hướng tăng từ quý IV/2022 đến nay; còn lại “tảng băng chìm” phần lớn ở khối chưa niêm yết hay các bên đang tái cơ cấu.

Soi kỹ bức tranh nợ xấu quý III/2024 của ngành Ngân hàng cho thấy nợ xấu đang tăng nhẹ ở các nhóm ngân hàng. Trong nhóm các ngân hàng quốc doanh, mức nợ xấu của BIDV tăng mạnh. Với các ngân hàng nhóm cho vay doanh nghiệp, mức nợ xấu cũng tiếp tục đà tăng, ngoại trừ HDBank và Maritime Bank. Ở nhóm cá nhân, hai ngân hàng có mức dư nợ gia tăng nhiều nhất cũng có nợ xấu tăng nhiều nhất, đó là VIB và TPBank. Ở nhóm các ngân hàng khác, nợ xấu tăng mạnh ở BaoVietBank và giảm mạnh ở VietABank.

Phân hoá rõ nét tỷ lệ bao phủ nợ xấu

“Tỷ lệ bao phủ nợ xấu không còn dày và chỉ tương đương trước Covid-19. Các ngân hàng thương mại tư nhân quy mô nhỏ có bộ đệm dự phòng thấp hơn nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng có thể sẽ duy trì chi phí trích lập dự phòng ở mức cao để làm dày bộ đệm dự phòng của mình”. Ông Cao Việt Hùng - Giám đốc phân tích ngành tài chính tại Công ty Chứng khoán ACB.

Cụ thể, trong nhóm quốc doanh, chỉ số nợ xấu BIDV quý III/2024 đạt 1,71%, tăng 19 điểm cơ bản so với quý trước và 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) quý 3/2024 tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm qua là 115,7% (giảm 16 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 43 điểm phần trăm so với cùng kỳ).

Trong nhóm chuyên cho vay doanh nghiệp, MBBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu đạt 2,23%, tương ứng gần 16.000 tỷ đồng, tăng 60 điểm cơ bản so với quý trước và 35 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ xấu quý 3/2024 tăng so với quý trước chủ yếu do nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) lên tới trên 6.000 tỷ đồng tăng 65% so với quý trước; nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) tăng 51%, lên trên 5.500 tỷ đồng; nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) hơn 4.000 tỷ đồng, tăng 59%. Trong khi đó, tỷ lệ LLR hợp nhất đạt 68,8% (giảm 33 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 53 điểm phần trăm so với cùng kỳ), thấp hơn nhiều năm gần đây.

Với nhóm cho vay cá nhân, nợ xấu quý III/2024 của VIB khoảng 11.460 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 3,85%, tăng 19 điểm cơ bản so với quý trước và tăng 17 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ nợ của VIB giảm còn 47,15%.

Đệm dự phòng chỉ tương đương trước Covid-19

Trong bối cảnh nợ xấu vẫn trên đà tăng, chất lượng tài sản tại nhiều nhà băng duy trì ở mức tương đối xấu trong quý III/2024.

Nợ tái cơ cấu theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN chiếm tỷ trọng khoảng 0,8%, NHNN cho phép kéo dài thời gian tái cơ cấu nợ đến hết năm 2024, qua đó, giúp giảm bớt áp lực lên chất lượng tài sản của các ngân hàng. Cũng theo ông Hùng, việc cơ cấu nợ không làm giảm chi phí trích lập dự phòng, do các ngân hàng vẫn phải trích lập 100% nợ tái cơ cấu đến cuối năm 2024.

Chưa kịp gượng dậy sau bão dịch, quý III/2024 vừa qua là thời điểm nhiều doanh nghiệp, khách hàng vay vốn chịu thiệt hại bởi cơn bão số 3 Yagi, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng. Thống kê của NHNN cho thấy số lượng khách hàng của các ngân hàng chịu ảnh hưởng của cơn bão số 3 khá lớn, khoảng 192 nghìn khách hàng. Trong đó, nhiều khách hàng bị thiệt hại lớn, thậm chí thiệt hại toàn bộ về tài sản hình thành từ vốn vay, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.

Theo ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia tài chính về ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống hiện ở mức khoảng 5%, phản ánh áp lực gia tăng từ các khoản vay trong lĩnh vực bất động sản, tiêu dùng và nông nghiệp, đặc biệt sau thiệt hại do cơn bão Yagi. Nhiều khách hàng trong khu vực bị ảnh hưởng đã không thể hoàn trả nợ đúng hạn, khiến tỷ lệ nợ xấu ở một số ngân hàng địa phương gia tăng.

Cũng theo vị chuyên gia này, khi Thông tư 06/2024/TT-NHNN hết hiệu lực, các khoản nợ tái cơ cấu sẽ phải chuyển nhóm, làm tăng nợ xấu danh nghĩa. Trong khi đó, bộ đệm dự phòng nợ xấu của các ngân hàng vốn đã giảm do lợi nhuận bị bào mòn bởi trích lập dự phòng, nay sẽ tiếp tục chịu áp lực. “Các ngân hàng cần tập trung vào tăng cường trích lập dự phòng, đồng thời đẩy mạnh thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để giám sát chặt chẽ danh mục tín dụng, giúp phát hiện kịp thời các khoản vay có dấu hiệu rủi ro” - ông Ân khuyến nghị.

Lo nợ xấu, lãi suất khó giảm sâu

Từ năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-19 để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng với mọi mặt của hoạt động kinh tế - xã hội, sức khoẻ doanh nghiệp và người dân bị bào mòn. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường vẫn ở mức cao và liên tục tăng từ 2020 đến nay. Riêng 10 tháng năm 2024, tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vượt mức cả năm 2023 (172.600 doanh nghiệp) với con số 173.200 doanh nghiệp, tăng 18,4% so với cùng kỳ.

Trong phiên chất vấn tại kỳ họp 8 của Quốc hội về lĩnh vực ngân hàng tuần qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, do sụt giảm nguồn thu đáng kể sau dịch bệnh nên số lượng doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn trong trả nợ vay ngân hàng và không trả được nợ tăng cao. Để kiểm soát số nợ xấu này, lãnh đạo NHNN nêu rõ nhiều giải pháp.

“Từ góc độ các tổ chức tín dụng, khi cho vay, ngân hàng cần thẩm định, đánh giá kỹ lưỡng về khả năng trả nợ của khách hàng vay để đảm bảo kiểm soát nợ xấu mới phát sinh” - Thống đốc Nguyễn Thị Hồng lưu ý.

Với nợ xấu hiện hữu, tích cực xử lý nợ xấu thông qua đôn đốc khách hàng trả nợ cũng như thu nợ hoặc phát mại tài sản song vẫn rất khó khăn, dù NHNN cũng đã có khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Công ty TNHH Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), các công ty mua bán nợ tham gia xử lý nợ xấu.

Nợ xấu có nghĩa là khi khách hàng không trả được nợ, trong khi đó tiền cho vay là tiền huy động của người dân và tổ chức tín dụng vẫn phải trả lãi cho người dân. Trường hợp nợ xấu vẫn tiếp tục tăng cao và khó có thể giải quyết được, theo Thống đốc, ngân hàng sẽ khó giảm lãi suất cho vay, thậm chí có thể phải tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí dự phòng. Đến nay hệ thống các tổ chức tín dụng đã dành nguồn lực tài chính của mình giảm khoảng từ 50.000 - 60.000 tỷ đồng giảm lãi suất cho các khách hàng.

Anh Tú

Đọc thêm

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18279 18555 19130
CAD 18612 18889 19511
CHF 32876 33261 33915
CNY 0 3837 3929
EUR 30020 30293 31321
GBP 34640 35033 35959
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15162 15753
SGD 20077 20359 20884
THB 723 786 839
USD (1,2) 26095 0 0
USD (5,10,20) 26137 0 0
USD (50,100) 26165 26180 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26203 26203 26391
AUD 18452 18552 19478
CAD 18793 18893 19907
CHF 33110 33140 34715
CNY 3816.9 3841.9 3977.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30194 30224 31947
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,191 26,241 26,391
USD20 26,191 26,241 26,391
USD1 26,191 26,241 26,391
AUD 18,472 18,572 19,684
EUR 30,310 30,310 31,719
CAD 18,735 18,835 20,143
SGD 20,301 20,451 21,360
JPY 162.79 164.29 168.83
GBP 34,811 35,161 36,033
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80