Quỹ bảo hiểm thất nghiệp: Bảo đảm cân đối trong ngắn hạn và trung hạn

Hà My
(TBTCVN) - Ông Đào Duy Hiện - Phó Trưởng ban Thực hiện chính sách Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho biết, với số kết dư quỹ bảo hiểm thất nghiệp như hiện nay, nếu người hưởng bảo hiểm thất nghiệp vẫn tăng do tình hình dịch bệnh thì quỹ vẫn bảo đảm cân đối được trong ngắn hạn và trung hạn.
aa

bh

Người lao động tìm hiểu chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp tại một trung tâm hỗ trợ việc làm tại Nghệ An.

Số chi trả bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng

Từ năm 2009 - năm bắt đầu triển khai thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đến nay, số người lao động tham gia BHTN đều gia tăng hằng năm. Cụ thể, năm 2009, mới chỉ có hơn 5,9 triệu người tham gia BHTN thì tới năm 2015 (năm đầu tiên Luật Việc làm có hiệu lực) đã có trên 10,3 triệu người tham gia, đến đến hết năm 2020 số người tham gia BHTN đã đạt mốc trên 13,3 triệu, chiếm khoảng 27,4% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Cùng với sự gia tăng về người tham gia, số người được hưởng chế độ BHTN cũng tăng lên hằng năm, dẫn đến tổng chi cho các chế độ BHTN cũng tăng. Theo thống kê, năm 2010, tổng chi các chế độ BHTN là 457,1 tỷ đồng thì đến năm 2014 là 3.911,1 tỷ đồng, tăng gấp 10 lần so với năm 2011. Từ khi Luật Việc làm có hiệu lực, với việc thay đổi cách tính thời gian hưởng BHTN, số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp giai đoạn 2015 - 2018 tăng ổn định với tỷ lệ bình quân là 12,5%. Hiện tại, tổng số người được chi trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng gần 5,7 triệu người với số tiền trên 52.000 tỷ đồng; tổng số người hưởng được hỗ trợ học nghề trên 200.000 người với số tiền 408 tỷ đồng; quỹ BHTN cũng chi trả tiền đóng BHYT cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp với khoảng 2.400 tỷ đồng.

Nếu như trước đây, do thời gian hưởng ngắn, số chi các chế độ BHTN so với số thu BHTN những năm đầu chỉ giao động khoảng dưới 30%. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tỷ lệ này bắt đầu gia tăng, năm 2015 là 52% trở lên thì đến năm 2019 tỷ lệ này là 70%. Đặc biệt, những tháng đầu năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, số lao động mất việc làm tăng và quỹ BHTN cũng thực hiện được vai trò “giá đỡ”, giúp đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho người lao động không có việc làm… với tỷ lệ hưởng lên tới 90% so với số thu.

Ông Đào Duy Hiện cho biết, đến hết 31/12/2020, số người thất nghiệp được trợ cấp đạt khoảng 1,03 triệu người, tăng khoảng 24% so với cùng kỳ năm 2019. Số chi trả BHTN 2020 đạt 16 nghìn tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ khoảng 33%. Như vậy, với vai trò quan trọng, chính sách BHTN đã giúp bảo đảm phần nào đời sống của một bộ phận người lao động và gia đình của họ trong dịch bệnh, góp phần ổn định kinh tế của đất nước.

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp vẫn đảm bảo an toàn

Tình hình dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội lâu dài, số người hưởng BHTN có thể vẫn tăng ít nhất là trong thời gian trước mắt. Nhiều ý kiến lo ngại sẽ có những nguy cơ về mất cấn đối thu chi quỹ BHTN trong ngắn và trung hạn. Tuy nhiên, theo ông Đào Duy Hiện, với số kết dư quỹ BHTN theo quy định như hiện nay, trong thời gian tới, nếu tình huống người hưởng BHTN vẫn tăng do tình hình dịch bệnh, thì quỹ vẫn bảo đảm cân đối được trong ngắn hạn và trung hạn.

Theo đánh giá tại Báo cáo thẩm tra việc quản lý và sử dụng quỹ BHXH, BHTN hàng năm của Uỷ ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, số phát sinh tăng quỹ BHTN trong các năm đều tăng lên. Cụ thể, năm 2017, kết dư BHTN là 67.320 tỷ đồng, tăng 9.038 tỷ đồng so với năm 2016; năm 2018 là 79.073 tỷ đồng; năm 2019 là 84.000 tỷ đồng và năm 2020, quỹ BHTN vẫn đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, đến năm 2021 dự kiến số chi BHTN sẽ tiếp tục tăng hơn năm 2020 do độ trễ nhất định của chính sách.

Ông Đào Duy Hiện cho biết, về quản lý và sử dụng quỹ BHTN đã được quy định rõ trong Luật Việc làm. Trong đó, được sử dụng chi trả các chế độ BHTN, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đóng BHYT cho người hưởng BHTN, chi phí quản lý được thực hiện theo Luật BHXH, đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Hoạt động đầu tư quỹ BHTN được thực hiện bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả, thu hồi được khi cần thiết, thông qua các hình thức mua tín phiếu, trái phiếu, đầu tư vào các dự án quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ vay.

Theo ông Hiện, số dư quỹ BHTN hiện nay lớn, lý do vì thời gian đầu chỉ có thu, chưa có chi trả. Trong 5 năm đầu thực hiện chính sách, số người hưởng còn thấp, trong khi hỗ trợ hằng năm vào quỹ là 1% tiền lương người lao động. Trong khi đó, mới chỉ thực hiện chi trả chế độ trợ cấp và hỗ trợ học nghề, các chế độ còn lại phát sinh ít. Ông Hiện cũng cho biết, Luật Việc làm điều chỉnh quy định hưởng trợ cấp cho người thất nghiệp. Đồng thời, Nghị quyết số 28 định hướng sửa đổi Luật Việc làm theo hướng tăng cường hỗ trợ phòng ngừa thất nghiệp cho người lao động. Vì vậy, trong tương lai, quỹ BHTN sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, không còn tình trạng kết dư lớn như hiện nay, đảm bảo mục tiêu hỗ trợ phòng ngừa thất nghiệp.

Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp được hình thành từ các khoản đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước hỗ trợ do ngân sách trung ương đảm bảo; từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác. Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp sử dụng vào các mục đích như: chi trả trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Hà My

Hà My

Đọc thêm

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Năm 2026, VINARE đặt mục tiêu doanh thu, trong đó gồm doanh thu phí bảo hiểm, đạt 4.266 tỷ đồng, tăng 10,2%; lợi nhuận trước thuế 560 tỷ đồng, tăng 10,3% và duy trì cổ tức tiền mặt 10%. Trước đó, dù chịu tác động từ thiên tai diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn hoàn thành vượt kế hoạch kinh doanh năm 2025.
Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,430 ▲230K 17,730 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲50K 16,150 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,950 ▲50K 17,250 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,900 ▲50K 17,200 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,830 ▲50K 17,180 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17668 17941 18517
CAD 18406 18683 19302
CHF 32388 32771 33418
CNY 0 3470 3830
EUR 29843 30115 31146
GBP 34110 34500 35426
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14818 15405
SGD 19940 20222 20749
THB 720 784 837
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,927 29,951 31,190
JPY 161.19 161.48 170.17
GBP 34,218 34,311 35,280
AUD 17,890 17,955 18,520
CAD 18,581 18,641 19,207
CHF 32,607 32,708 33,467
SGD 20,055 20,117 20,788
CNY - 3,781 3,899
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 16.09 16.78 18.14
THB 769.62 779.13 830.09
NZD 14,806 14,943 15,293
SEK - 2,736 2,816
DKK - 4,005 4,121
NOK - 2,673 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,099.75 - 6,845.57
TWD 744.5 - 896.39
SAR - 6,895.21 7,219.58
KWD - 83,477 88,275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 17860 17960 18885
CAD 18596 18696 19707
CHF 32627 32657 34231
CNY 3765.9 3790.9 3926.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30015 30045 31772
GBP 34366 34416 36177
HKD 0 3355 0
JPY 162.44 162.94 173.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14918 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20108 20238 20971
THB 0 749.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17500000 17500000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,360
USD20 26,165 26,215 26,360
USD1 23,850 26,215 26,360
AUD 17,911 18,011 19,132
EUR 30,138 30,138 31,569
CAD 18,537 18,637 19,952
SGD 20,180 20,330 20,907
JPY 162.78 164.28 168.95
GBP 34,231 34,581 35,470
XAU 17,498,000 0 17,802,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80