Sáp nhập Southern Bank vào Sacombank: Sẽ làm gọn trong 2014

Dương An
Ngân hàng Sacombank vừa trả lời những thắc mắc của cổ đông chưa được giải đáp tại đại hội cổ đông, trong đó giải thích về nguyên nhân kinh doanh vàng lỗ, về việc sáp nhập, quan hệ nợ vay giữa Sacombank và ngân hàng Phương Nam (Southern Bank)…
aa

>> Sacombank trước vị đắng Southern Bank

>> Sáp nhập Southern Bank vào Sacombank: Chỉ 2,3% phủ quyết

>> Southern Bank với Sacombank: Ngửa bài!

>> Sáp nhập Southern Bank với Sacombank: Eximbank là 'chủ xị' hay 'quân cờ'?

Ngân hàng Phương Nam không vay tiền Sacombank

Tại cuộc họp ngày 25/3, nhiều cổ đông đã đặt câu hỏi về việc cho ngân hàng TMCP Phương Nam sáp nhập vào Sacombank. Trả lời các câu hỏi này, Sacombank cho biết đây là việc làm phù hợp với chủ trương của Chính phủ và NHNN về tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP).

Để chuẩn bị cho quá trình đó, Sacombank đã chuẩn bị đầy đủ các bước đi và lộ trình thích hợp cho quá trình sáp nhập. Việc sáp nhập với Ngân hàng Phương Nam sẽ giúp Sacombank mở rộng được hệ thống mạng lưới và thị phần, tăng khả năng cạnh tranh về lâu dài và đáp ứng được định hướng chung của NHNN trong đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015. Dự kiến việc sáp nhập sẽ hoàn tất trong năm 2014.

Về quan hệ vay nợ giữa Sacombank và Ngân hàng Phương Nam, Sacombank nêu rõ hoạt động giao dịch tiền gửi/ tiền vay liên ngân hàng tín chấp giữa Sacombank với các tổ chức tín dụng khác là hoạt động giao dịch bình thường nhằm hỗ trợ ổn định cân đối thanh khoản trong hệ thống Ngân hàng phù hợp với các quy định của NHNN. Theo đó, giao dịch phát sinh đối với Ngân hàng Phương Nam cũng nằm trong loại hình hoạt động này. Tính đến ngày 31/12/2013, dư nợ cho vay đối với Ngân hàng Phương Nam bằng 0.

sacombank
Đại hội cổ đông thường niên Sacombank 2014. Ảnh: NĐH

SBJ lỗ do đầu tư sai

Trả lời câu hỏi của cổ đông yêu cầu giải thích về kết quả kinh doanh lỗ của Công ty Vàng bạc đá quý (Sacombank – SBJ) năm 2013, Sacombank cho biết, hoạt động kinh doanh vàng trong những năm gần đây chịu ảnh hưởng bởi các quy định của NHNN, đặc biệt là qui định về đóng cửa sàn vàng và ngưng kinh doanh vàng miếng, là các lĩnh vực mà trước đây Sacombank - SBJ đã đầu tư lớn về máy móc thiết bị và hệ thống công nghệ thông tin.

Mặt khác, tình hình khó khăn chung của nền kinh tế làm cho doanh số kinh doanh trang sức bị giảm sút. Ngoài ra, do SBJ tập trung vào công tác tái cấu trúc, thanh lý các tài sản không còn sử dụng, giảm các khoản đầu tư, thu hẹp hoạt động nên kết quả kinh doanh đạt thấp.

Năm 2013, SBJ (hợp nhất) lỗ 59,6 tỷ đồng, lỗ theo báo cáo riêng là 43,4 tỷ đồng. Cụ thể: Lỗ do trích lập dư phòng tổn thất đầu tư vào 02 công ty con là 16,1 tỷ đồng; Lỗ do thanh lý dứt điểm khoản đầu tư vào công ty Sơn Tín (STE) là 15 tỷ đồng; Lỗ từ hoạt động kinh doanh là 12,3 tỷ đồng.

Do lường trước được những khó khăn nên Công ty đã chủ động thực hiện công tác tái cấu trúc hoạt động, cũng như tiết giảm chi phí hoạt động tối đa. Từ đầu năm và đặc biệt từ tháng 6/2013, chi phí hoạt động cuối năm giảm 45% so với đầu năm (trong đó chi phí lương giảm 34%, chi phí hoạt động và quản lý công vụ giảm 45%, chi tài sản giảm 64%).

Tuy nhiên, Sacombank cho rằng xét về tổng thể quá trình hoạt động, các năm trước đây Sacombank-SBJ đều có lãi. Cụ thể: năm 2009 lãi 55,6 tỷ đồng; năm 2010 lãi 14,2 tỷ đồng; năm 2011 lãi 52,1 tỷ đồng; năm 2012 lãi 16,1 tỷ đồng.

Trong năm tới, Sacombank-SBJ tiếp tục tập trung cho công tác tái cấu trúc, xác định mục tiêu kinh doanh trọng yếu, tăng cường chống lãng phí và thực hành tiết kiệm, chú trọng công tác quản trị chi phí hiệu quả, đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí.

Kiểm soát chặt nợ xấu và nợ cơ cấu

Nhiều cổ đông cũng thắc mắc về vấn đề nợ xấu, nợ tái cơ cấu của Sacombank. Ngân hàng này cho biết do ảnh hưởng của giai đoạn khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn tiến trong năm 2013 và kéo dài liên tục từ năm 2008 đến nay, nhiều khách hàng vay vốn tại Sacombank gặp nhiều khó khăn.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, Sacombank đã xem xét, rà soát và đánh giá kỹ các phương án đề nghị được hỗ trợ tái cơ cấu nợ của các khách hàng, từ đó đã có những giải pháp thực hiện cơ cấu, giãn nợ kịp thời theo đúng qui định nhằm hỗ trợ cho các khách hàng tiếp tục duy trì hoạt động, vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Theo đó, nợ xấu và nợ cơ cấu trong năm 2013 có tăng lên so với trước đó nhưng vẫn kiểm soát được chặt chẽ, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu thấp hơn 3% so với mục tiêu kế hoạch đã đề ra.

Ngoài ra, Sacombank cũng giải thích lý do việc chuyển trích chi phí thù lao của HĐQT, Ban Kiểm soát từ lợi nhuận trước thuế thay vì sau thuế như trước kia; về cơ chế trích thưởng vượt chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận; chi tiết trích lập và sử dụng các quỹ…

Dương An

Dương An

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17959 18233 18812
CAD 18140 18416 19035
CHF 31100 31478 32121
CNY 0 3825 3921
EUR 29314 29534 30617
GBP 34172 34562 35500
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14655 15243
SGD 19860 20142 20712
THB 694 757 811
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,897
USD20 25,678 25,828 26,897
USD1 24,337 25,828 26,897
AUD 18,208 18,308 19,421
EUR 29,344 29,444 31,104
CAD 18,283 18,383 19,693
SGD 20,139 20,289 20,845
JPY 165.02 166.52 172.09
GBP 34,453 34,603 35,672
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30