Thị trường tài chính xanh: "Sân chơi" đang dần tăng nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu đầu tư vào các giải pháp thích ứng và giảm tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam từ nay đến 2040 có giá trị khoảng 368 tỷ USD. Theo đó, nhu cầu vốn cho các giải pháp phát triển xanh là rất lớn và “sân chơi” trên thị trường tài chính xanh hứa hẹn tăng nhiệt.
aa

Yêu cầu về tăng trưởng xanh

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đã cam kết đưa mức phát thải ròng về “0” vào năm 2050; giảm phát thải khí methane vào năm 2030 và mục tiêu hiện thực hóa cam kết lịch sử này sẽ mang tính bước ngoặt của Việt Nam. Trong đó, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, một trong những giải pháp là cần tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực thiết yếu nhất giúp Việt Nam kích hoạt các lợi thế tự nhiên và vươn lên trở thành nước phát triển trên cả ba yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội vào năm 2045.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồ họa: Văn Chung

Theo đó, tăng trưởng xanh trong giai đoạn mới sẽ là công cụ hữu hiệu giúp Chính phủ cân đối các nguồn lực trong nước và huy động nguồn lực quốc tế hiệu quả, cung cấp một giải pháp hỗ trợ liên ngành trong triển khai thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính ở các cấp có sự gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, nhận thức về các yêu cầu đầu tư cho tăng trưởng xanh không chỉ ở cấp độ quốc gia, mà cấp độ doanh nghiệp cũng đã có những thay đổi. Bà Trần Thúy Ngọc, lãnh đạo phụ trách dịch vụ Quản trị Biến đổi khí hậu và Phát triển bền vững, Deloitte Việt Nam cho biết, tại Việt Nam, các nhà lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp cũng đang nhận thấy tác động của biến đổi khí hậu tới doanh nghiệp của họ. Các doanh nghiệp có thể ở những mức độ thách thức và có những mối quan ngại khác nhau trên hành trình chống biến đổi khí hậu, nhưng tất cả đều cần nhanh chóng chuyển từ giai đoạn từ nhận thức - “tại sao” sang hành động - “làm thế nào”.

Với những yêu cầu này, WB cũng đưa dự báo, nhu cầu đầu tư vào các giải pháp thích ứng và giảm tác động của biến đổi khí hậu của Việt Nam từ nay đến 2040 có giá trị khoảng 368 tỷ USD. Riêng trong lĩnh vực điện, theo dự thảo Quy hoạch điện VIII, nguồn tài chính để có thêm khoảng 20GW năng lượng tái tạo so với năm 2020 sẽ là khoảng 15-16 tỷ USD mỗi năm tới năm 2030. Báo cáo Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định đưa ra ước tính Việt Nam sẽ cần khoảng 69 tỷ USD cho các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính theo cam kết môi trường của Việt Nam.

Đi tìm nguồn tài chính bền vững

Trước bối cảnh nhu cầu vốn cho tăng trưởng xanh ngày càng lớn như trên, việc đi tìm một nguồn tài chính bền vững đang ngày càng cấp thiết. Với yêu cầu này, các cơ chế, chính sách cho thị trường tài chính xanh tại Việt Nam đang được dần hoàn thiện với từng loại công cụ như trái phiếu xanh - xã hội - bền vững (GSS), cổ phiếu xanh, thị trường Carbon cũng như tín dụng xanh.

Môi trường pháp lý hiện nay đang tương đối mở với các sản phẩm tài chính xanh tại Việt Nam và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động nguồn vốn xanh trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế cho rằng, việc triển khai tín dụng xanh, trái phiếu xanh theo quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường 2020 vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết hơn.

Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh

Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 gồm 18 chủ đề, 57 nhóm, trong đó có 134 nhiệm vụ, hoạt động cụ thể. Tại Kế hoạch này, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối quốc gia về tăng trưởng xanh, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai thực hiện.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xác định và phân bổ nguồn tài chính trong nước và điều phối các nguồn tài trợ của nước ngoài, cơ chế chính sách thúc đẩy thực hiện Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh.

TS. Vũ Nhữ Thăng - Phó Chủ tịch phụ trách Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho biết, tài chính xanh đã và sẽ là một nội dung hay trong bối cảnh chung của thị trường tài chính, đặc biệt việc này đặt trong lộ trình của Việt Nam khi thực hiện các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, việc thực thi hiệu quả cần phải được hướng dẫn rõ và cụ thể hơn nữa trong các quy định pháp luật.

Ông Thăng đưa ra ví dụ, khái niệm xanh có thể không chỉ là “green” mà cả “blue”, hàm ý là cần phải quan tâm cả yếu tố môi trường biển, để hướng tới một cách hiểu rộng hơn. Ngoài ra, trong vấn đề tài chính xanh, yếu tố về chi phí huy động vốn là rất quan trọng, và với quan điểm này, ông Thăng đặt vấn đề cần phải xem xét lại các quy định hiện có về các lĩnh vực ưu tiên về vốn: Ngoài 5 lĩnh vực ưu tiên hiện nay có thể thêm một lĩnh vực có yếu tố “xanh”, đồng thời nguồn hỗ trợ lãi suất cũng có thể trích ngay từ thuế bảo vệ môi trường.

Liên quan đến việc tận dụng các nguồn vốn giá rẻ, ông Nguyễn Minh Cường - Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng ADB cho biết, cần phải đẩy nhanh các quy trình thủ tục phê duyệt dự án. Thực tế cho thấy các tổ chức quốc tế lớn như WB, ADB họ đều có những nguồn vốn lớn huy động chi phí thấp để đầu tư các dự án, nhưng nếu quy trình thủ tục cho các dự án kéo dài và phức tạp thì có thể họ sẽ bỏ cuộc chuyển vốn sang đầu tư nước khác./.

Chí Tín

Đọc thêm

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Nới dư địa tín dụng, ngân hàng thêm lực tài trợ dự án trung và dài hạn

Nới dư địa tín dụng, ngân hàng thêm lực tài trợ dự án trung và dài hạn

(TBTCO) - VPBankS đánh giá, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN và cơ chế loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ giúp các ngân hàng mở rộng dư địa cho vay. Đặc biệt, chính sách này được kỳ vọng hỗ trợ tài trợ các dự án lớn, giảm áp lực huy động vốn dài hạn, song mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa theo năng lực vốn và quản trị rủi ro của từng ngân hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 14,800
Kim TT/AVPL 14,500 14,800
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,800
Nguyên Liệu 99.99 13,250 13,450
Nguyên Liệu 99.9 13,200 13,400
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 14,250
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 14,180
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 148,000
Hà Nội - PNJ 145,000 148,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 148,000
Miền Tây - PNJ 145,000 148,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 148,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 148,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 14,800
Miếng SJC Nghệ An 14,500 14,800
Miếng SJC Thái Bình 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 14,802
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 14,803
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 1,479
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 1,464
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 14,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 109,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 99,712
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 89,463
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 8,551
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 61,205
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 148
Cập nhật: 30/06/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18455
CAD 17989 18264 18881
CHF 31868 32249 32897
CNY 0 3828 3921
EUR 29347 29567 30648
GBP 33956 34346 35284
HKD 0 3221 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15138
SGD 19779 20061 20642
THB 705 769 822
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26461
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,121 26,121 26,461
USD(1-2-5) 25,077 - -
USD(10-20) 25,077 - -
EUR 29,614 29,638 31,000
JPY 158.78 159.07 168.4
GBP 34,293 34,386 35,514
AUD 17,890 17,955 18,609
CAD 18,275 18,334 18,975
CHF 32,249 32,349 33,241
SGD 20,003 20,065 20,820
CNY - 3,814 3,954
HKD 3,300 3,310 3,442
KRW 15.79 16.47 17.89
THB 756.99 766.34 819.12
NZD 14,612 14,748 15,159
SEK - 2,673 2,763
DKK - 3,962 4,095
NOK - 2,618 2,706
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,070.98 - 6,843.95
TWD 748.51 - 905.28
SAR - 6,913.42 7,269.75
KWD - 83,470 88,665
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,101 26,121 26,461
EUR 29,401 29,519 30,699
GBP 34,102 34,239 35,249
HKD 3,286 3,299 3,415
CHF 31,936 32,064 32,976
JPY 158.57 159.21 166.99
AUD 17,767 17,838 18,423
SGD 19,977 20,057 20,635
THB 768 771 806
CAD 18,206 18,279 18,840
NZD 14,581 15,109
KRW 16.38 18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26097 26097 26461
AUD 17779 17879 18801
CAD 18170 18270 19284
CHF 32091 32121 33703
CNY 3808.5 3833.5 3968.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29518 29548 31270
GBP 34236 34286 36038
HKD 0 3355 0
JPY 158.84 159.34 169.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14648 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19933 20063 20789
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,461
USD20 26,135 26,185 26,461
USD1 26,135 26,185 26,461
AUD 17,824 17,924 19,037
EUR 29,656 29,656 31,380
CAD 18,136 18,236 19,545
SGD 20,022 20,172 20,732
JPY 159.57 161.07 165.63
GBP 34,125 34,475 35,598
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/06/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80