Thị trường tiền tệ tuần 12-16/12: Lãi suất vẫn là tâm điểm của tuần

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất vẫn là tâm điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua, nhưng theo một diễn biến khác so với giai đoạn trước. Trong nước, các ngân hàng đang đặt quyết tâm đồng thuận hạ lãi suất cả đầu vào lẫn đầu ra; trong khi ở phạm vi quốc tế, FED tiếp tục tăng lãi suất, nhưng đây là lần tăng đã được dự báo trước và nằm trong lộ trình tăng lãi suất chậm dần.
aa

Cam kết mạnh mẽ hơn quyết tâm hạ lãi suất

Tuần qua, một lần nữa Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã họp và đi đến sự đồng thuận quyết tâm hạ lãi suất cho vay với mức trung bình khoảng 0,5 - 2%. Để có sơ sở hạ lãi suất cho vay, các ngân hàng cũng đã tái khẳng định lại cam kết trước đó của các thành viên VNBA là dừng cuộc đua tăng lãi suất huy động, giữ mức tối đa là 9,5% với mọi kỳ hạn (kể cả khuyến mại).

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/12: Lãi suất vẫn là tâm điểm của tuần
Các ngân hàng quyết tâm giảm lãi suất cho vay khoản 0,5% - 2%. Ảnh: T.L
Tín hiệu tích cực từ nới room, tỷ giá vào giai đoạn giảm sâu

VNBA cũng đã nhắc nhở một số ngân hàng vi phạm cam kết (vẫn để lãi suất huy động trên 9,5%) phải chấn chỉnh nghiêm túc thực hiện cam kết. Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của các ngân hàng đó phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện các cam kết này để giữ uy tín chung của ngành ngân hàng, không để tình trạng cam kết nhưng không thực hiện.

Tăng vai trò của thị trường mở và thị trường liên ngân hàng

Để dừng cuộc đua tăng lãi suất nhưng vẫn đảm bảo hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng có nhu cầu, NHNN đồng ý với đề xuất của VNBA tăng thời hạn cấp vốn cho các ngân hàng trên thị trường mở, đồng thời chấp nhận cầm cố ngoại tệ hoặc mua hẳn ngoại tệ.

Các ngân hàng cũng cam kết chia sẻ thanh khoản tối đa trên thị trường liên ngân hàng cho các ngân hàng khác có nhu cầu. Trong cuộc họp mới đây với các thành viên VNBA, lãnh đạo NHNN cho biết sẽ sử dụng tối đa mọi công cụ để đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng, dù là ngân hàng lớn hay nhỏ.

Thông điệp hạ lãi suất của các thành viên VNBA lần này được hậu thuẫn khá mạnh mẽ từ phía lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Ngay cả với lãi suất cho vay, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay phải giảm thực chất, không phải giảm với một vài khách hàng cho có, mà phải trên diện rộng để có tác dụng thực sự thể hiện quyết tâm đồng hành chia sẻ khó khăn của ngành ngân hàng với nền kinh tế.

Động thái quyết tâm hạ lãi suất của ngành ngân hàng được kỳ vọng sẽ giải tỏa bớt khó khăn về vốn, khơi thông dòng tiền cho doanh nghiệp và người dân, nhất là giai đoạn cuối năm dương lịch và dịp giáp Tết nguyên đán sắp tới.

FED tiếp tục tăng lãi suất

Trên thị trường tài chính quốc tế, thông tin đáng chú nhất diễn ra trong tuần là việc Cục dự trữ liêng bang Mỹ (FED) tăng lãi suất tham chiếu thêm 50 điểm cơ bản, lên khoảng 4,25 - 4,5%. Đây tuy là mức lãi suất cao nhất trong vòng 15 năm qua, nhưng động thái này đã nằm trong dự đoán từ trước và lần tăng lãi suất này của FED đã có biên độ tăng hẹp hơn so với các lần tăng trước.

Hướng tới năm 2023, FED sẽ có xu hướng điều chỉnh mức tăng lãi suất xuống chỉ còn 25 điểm cơ bản mỗi lần trong bối cảnh lạm phát dự kiến sẽ hạ nhiệt dần và giới tài chính quốc tế đặt kỳ vọng làn sóng tăng lãi suất trên thế giới sẽ chấm dứt vào năm cuối 2023.

Về tác động trong nước, việc FED tăng lãi suất lần này ít ảnh hưởng lên lãi suất và tỷ giá đồng nội tệ do Việt Nam đã có xuất siêu khá lớn trong 11 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư nước ngoài cũng tăng mạnh… Theo đó, nguồn cung ngoại tệ vẫn khá dồi dào giúp tỷ giá sẽ vẫn có thể giữ ổn định cho dù đồng USD có thể tăng giá so với các ngoại tệ khác trên thị trường quốc tế.

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/12: Lãi suất vẫn là tâm điểm của tuần
Dòng vốn tín dụng được tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Ảnh: T.L

Tỷ giá ổn định trong tuần

Sau nhịp giảm mạnh, tỷ giá tuần qua bước vào giai đoạn ổn định. Trong tuần, NHNN công bố tỷ giá trung tâm có 1 phiên đứng giá, trong khi các ngày còn lại đều giảm, nhưng mức giảm rất nhẹ với bình quân mỗi phiên chỉ giảm khoảng 1 đến 2 đồng mỗi USD.

Trong khi đó, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank đã có những phiên tăng giảm xen kẽ nhau. Ngân hàng này hôm đầu tuần đã điều chỉnh tăng tỷ giá niêm yết, nhưng sau đó đã có 3 phiên điều chỉnh giảm liên tục trước khi tăng tỷ giá vào hôm thứ sáu cuối tuần. Sáng thứ sáu cuối tuần, Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 23.410/23.440/23.720 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra).

Việc tỷ giá tiếp tục duy trì ổn định cũng là một trong những cơ sở để NHNN và các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong việc điều tiết nguồn vốn nội tệ cho nền kinh tế. Trong đó, những động thái đã được đưa ra thời gian qua như việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, đồng thuận hạ lãi suất của các ngân hàng… cũng có cơ sở để thực hiện chủ động hơn.

Giá vàng đi vào xu hướng giảm

Trong tuần, giá vàng có 2 phiên giảm điểm đầu tuần, tăng giá một phiên giữa tuần, sau đó giảm vào ngày hôm sau đó và tăng trở lại vào phiên cuối tuần. Nhìn trên bình diện cả tuần, giá vàng diễn biến trong xu hướng giảm.

Đầu tuần, giá vàng 9999 SJC Hà Nội giảm 100 nghìn đồng/lượng so với kết thúc phiên giao dịch cuối tuần trước, ghi nhận ở mức 66,35 triệu đồng/lượng mua vào và 67,17 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó, giá vàng trải qua một số phiên trồi sụt và chốt tuần ở mức 66,05 triệu đồng/lượng mua vào và 66,87 triệu đồng/lượng bán ra. Với diễn biến này, giá vàng phiên cuối tuần đã ở mức thấp hơn khoảng 300.000 đồng/lượng so với hôm đầu tuần.

Tác động giảm của giá vàng một phần chịu ảnh hưởng của diễn biến đi xuống của giá vàng thế giới. Theo đó, việc FED tăng lãi suất làm cho đồng USD tăng giá trên thị trường tiền tệ quốc tế, dẫn đến tác động tiêu cực lên giá vàng. Tuy nhiên, giá vàng trong nước dự báo sẽ khó giảm tiếp trong thời gian tới bởi đồng nội tệ vẫn khá vững giá so với USD.

Đẩy mạnh tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Một trong những thông điệp trong tuần qua là việc NHNN đã có cuộc họp bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo NHNN, đến cuối tháng 11/2022, huy huy động vốn của ngành ngân hàng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đạt 718.905 tỷ đồng, tăng 8,68% so với cuối năm 2021; dư nợ đạt 955.451 tỷ đồng, tăng 13,53% so với cuối 2021. Tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn luôn được các tổ chức tín dụng quan tâm đầu tư, với dư nợ đạt gần 540.000 tỷ đồng, tăng gần 15% so với cuối năm 2021.

Chí Tín

Đọc thêm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 11/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.596 đồng, USD tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt đi lên, còn chỉ số DXY vượt 99 điểm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5%, lần tăng thứ hai năm nay, để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất, trong bối cảnh giá dầu tiến sát 110 USD/thùng.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲130K 14,670 ▲130K
Trang sức 99.99 14,080 ▲130K 14,680 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲18K 1,471 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲18K 1,472 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▲18K 1,461 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▲1782K 144,653 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▲1350K 109,736 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▲1224K 99,508 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼70434K 8,928 ▼79254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▲1050K 85,335 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼45401K 6,108 ▼54221K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30