Thị trường tiền tệ tuần 22 – 26/5:

Tỷ giá ổn định, vàng tăng nhưng khó dự đoán xu hướng sắp tới

Chí Tín
(TBTCO) - Trong tuần qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thể hiện quan điểm trước Quốc hội về xử lý các ngân hàng yếu kém. Về thị trường chung, giá vàng thế giới đang có dấu hiệu phục hồi đã có những tác động tích cực với giá vàng trong nước, tuy nhiên, xu hướng giá vàng vẫn chưa rõ nét trước nhiều quan điểm dự báo khác nhau về giá vàng.
aa

Tỷ giá chỉ tăng nhẹ, cán cân thương mại vẫn thặng dư

Tỷ giá tuần qua vẫn giữ nhịp ổn định với tỷ giá trung tâm do NHNN công bố chỉ tăng chút ít trong suốt tuần. Cụ thể mở đầu tuần, tỷ giá USD trung tâm hôm 29/5 chỉ chỉnh tăng nhẹ thêm 1 đồng mỗi USD so với cuối tuần trước, niêm yết ở mức 23.712 đồng/USD. Tiếp đó, tỷ giá trung tâm cũng chỉ tăng nhẹ 2 đồng trong phiên tiếp theo và giữ nguyên trong phiên ngày thứ tư (31/5). Trong 2 ngày cuối tuần, tỷ giá trung tâm tăng hôm thứ năm, nhưng sau đó lại quay đầu giảm vào thứ sáu cuối tuần, chốt ở mức 23.722 đồng/USD.

Tỷ giá ổn định, vàng tăng nhưng khó dự đoán xu hướng sắp tới
Tỷ giá ổn định, vàng tăng nhưng khó dự đoán xu hướng sắp tới. Ảnh: T.L

Trong khi đó tại ngân hàng thương mại, tỷ giá do Vietcombank niêm yết ghi nhận tăng nhẹ đầu tuần nhưng sau đó quay đầu giảm vào cuối tuần, chốt tuần ở mức 23.280/23.310/23.650 đồng/USD, đúng bằng tỷ giá do ngân hàng này công bố hôm cuối tuần.

Đồng USD có thể suy yếu trên thị trường quốc tế

Trên thị trường quốc tế, một số dự đoán gần đây cho rằng đồng USD sẽ suy giảm giá trị. Động thái này có thể là yếu tố khiến các nhà đầu tư bán USD làm cho đồng tiền này giảm giá, từ đó khiến vàng có giá trị cao hơn trong sự so sánh với USD. Trong khi đó với tỷ giá trong nước, đồng USD nếu thực sự yếu hơn thì cũng sẽ là yếu tố giúp cho đồng tiền nội tệ vẫn tiếp tục vững giá.

Diễn biến xuất nhập khẩu tiếp tục thặng dư vẫn là tín hiệu cho thấy nguồn cung ngoại tệ vẫn rất dồi dào, hỗ trợ tốt cho tỷ giá. Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5/2023 đạt 29,05 tỷ USD, tăng 4,3% so với tháng trước và giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 5/2023 đạt 26,81 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và giảm 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, cán cân thương mại tháng 5 tiếp tục xuất siêu 2,24 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023 ước tính xuất siêu 9,8 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 0,24 tỷ USD).

Đang quyết liệt thực hiện tái cơ cấu ngân hàng yếu kém

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, tái cơ cấu một ngân hàng yếu kém trong điều kiện bình thường đã rất khó, trong điều kiện nền kinh tế khó khăn hiện nay thì nhiệm vụ tái cơ cấu lại càng khó hơn. Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã họp với ngành ngân hàng và yêu cầu tiến hành quyết liệt các giải pháp để tái cơ cấu.

Bà Hồng cho biết, đến nay, các ngân hàng yếu kém đã trình xin chủ trương các cấp có thẩm quyền. Hiện nay, NHNN cùng các bộ, ngành dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đang thực hiện quyết liệt các bước trước khi phê duyệt Đề án chi tiết theo đúng chủ trương của cấp có thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.

Tỷ giá ổn định, vàng tăng nhưng khó dự đoán xu hướng sắp tới
Các nhà đầu tư vẫn tiếp tục dõi theo các diễn biến kinh tế quốc tế. Ảnh: T.L

Nhiều dự báo khác nhau về giá vàng

Giá vàng giảm đầu tuần, nhưng sau đó quay đầu tăng trở lại vào cuối tuần. Cụ thể trong phiên đầu tuần, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận mức 66,4 triệu đồng/lượng mua vào và 67,02 triệu đồng/lượng bán ra. Đến hôm thứ sáu cuối tuần ngày 2/6, giá vàng miếng có nhỉnh hơn thời điểm đầu tuần chút ít với 66,45 triệu đồng/lượng mua vào và 67,05 triệu đồng/lượng bán ra.

Tại thị trường quốc tế, giá vàng tại thời điểm buổi chiều ngày thứ sáu ghi nhận ở mức 1.977 USD/ounce, thấp hơn chút ít so với phiên sáng, nhưng vẫn cao hơn khoảng 16 USD so với thời điểm đầu tuần.

Một số chuyên gia tài chính quốc tế cho biết, trong ngắn hạn, vàng có thể được giao dịch ở mức giá cao hơn, tiệm cận ngưỡng 1.980 USD/ounce. Ngưỡng hỗ trợ quan trọng của giá vàng xung quanh mức 1.950 USD/ounce, trong khi ở ngưỡng trên, vàng cũng có thể có cơ hội tăng trở lại mức 2.000 USD/ounce.

Hiện, các chuyên gia ở Phố Wall đang có nhiều quan điểm khác nhau về xu hướng giá vàng. Theo một khảo sát về quan điểm, 43% nhận định giá vàng sẽ tăng trong thời gian tiếp theo. Cũng tỷ lệ 43% cho rằng giá vàng sẽ giảm và chỉ có 14% cho rằng giá vàng sẽ đi ngang.

Trong khi đó, 762 nhà đầu tư bán lẻ tham gia khảo sát của Kitco News, thì có 49% dự đoán giá vàng sẽ cao hơn, 36% ước tính giá giảm và 15% cho rằng giá sẽ đi ngang.

Sẽ có tọa đàm về hoàn thiện chính sách bảo vệ quyền lợi khách hàng của ngân hàng

Tuần sau, Hiệp hội Ngân hàng sẽ tổ chức tọa đàm “Hoàn thiện chính sách bảo vệ quyền lợi khách hàng của ngân hàng tại dự thảo Luật Bảo vệ quyền lọi người tiêu dùng (sửa đổi)".

Hiện Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi) đang được Bộ Công thương lấy ý kiến có tác động đến hoạt động của các ngân hàng. Để giúp Cơ quan soạn thảo hoàn thiện dự thảo Luật phù hợp với quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động hiện nay của các ngân hàng, sau khi trao đổi thống nhất với Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hiệp hội Ngân hàng sẽ tổ chức tọa đàm về chủ đề liên quan đến Dự thảo Luật.

Thành phần tham dự tọa đàm gồm: Một số Ủy ban Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các Bộ ngành liên quan, Hội bảo vệ người tiêu dùng, các Tổ chức hội viên Hiệp hội.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
Trang sức 99.99 13,970 ▲60K 14,570 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1281K 14,602 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1281K 14,603 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,456 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1254K 1,445 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲594K 143,069 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲450K 108,536 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79350K 9,842 ▼88170K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲366K 88,304 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲350K 84,402 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲251K 60,413 ▲251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cập nhật: 12/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 12/09/2026 09:30
Ngân hàng