Xuất hiện tín hiệu “hãm phanh” trong cuộc đua lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Cho đến giữa tháng 11/2022, vẫn có những ngân hàng tiếp tục đẩy cao lãi suất huy động, vốn làm cuộc đua lãi suất vẫn trong trạng thái khá nóng. Tuy nhiên, diễn biến lãi suất bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang giảm dần cho thấy, tín hiệu cuộc đua lãi suất huy động có thể sẽ sớm bị “hãm phanh” trong thời gian tới.
aa

Lãi suất diễn biến trái chiều

Trong thời gian trước, lãi suất cả mua và bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đều quanh mức khoảng 6%/năm, nhưng trong một số phiên đấu thầu tín phiếu từ giữa tháng 11 đến nay, lãi suất bán tín phiếu của NHNN có sự giảm mạnh.

Trong phiên đấu thầu ngày 15/11, NHNN đấu thầu bán hẳn tín phiếu, hút về gần 20 nghìn tỷ đồng với lãi suất 6%/năm. Tuy nhiên đến phiên 16/11, NHNN bán hẳn gần 10 nghìn tỷ đồng tín phiếu và lãi suất giảm xuống 5,8%. Tiếp đó đến phiên đấu thầu 17/11, NHNN bán hẳn 5.000 tỷ đồng tín phiếu, hút về 5 nghìn tỷ đồng và lãi suất giảm còn 5,49% và lãi suất bán tín phiếu thậm chí đã giảm rất mạnh xuống chỉ còn 4,5% trong phiên đấu thầu ngày 18/11, khi NHNN bán ra 5.000 tỷ đồng tín phiếu.

Động thái lãi suất trên thị trường mở theo đó diễn biến trái ngược với diễn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đối với tiền gửi dân cư, bởi lẽ, cuộc đua lãi suất huy động vẫn khá nóng trên thị trường trong giai đoạn giữa tháng 11.

Cuộc đua lãi suất huy động vẫn khá nóng trên thị trường trong giai đoạn giữa tháng 11.
Cuộc đua lãi suất huy động vẫn khá nóng trên thị trường trong giai đoạn giữa tháng 11.

Lãi suất huy động tăng nhiệt thời gian qua xuất phát từ việc các ngân hàng phải cạnh tranh khá gay gắt với nhau trong huy động vốn. Đặc biệt, tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng có tốc độ nhanh hơn tăng trưởng nguồn vốn huy động, theo đó, những ngân hàng đẩy lãi suất lên cao để tăng sức hút tiền gửi về ngân hàng mình nhằm đảm bảo cân đối dòng vốn đầu vào và đầu ra. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng khác cũng lại phải tăng lãi suất huy động lên theo để giữ chân khách hàng.

Mức lãi suất huy động cao nhất của các ngân hàng hiện nay thậm chí đã lên tới 14%/năm. Đó là trường hợp Ngân hàng Standard Chartered, tuy nhiên, mức lãi suất này chỉ dành cho khách hàng tham gia mua bảo hiểm. Trong khi đó, một số ngân hàng khác cũng đã đưa lãi suất lên mức xấp xỉ 10% với những kỳ hạn từ 13 tháng trở lên. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng cũng đã được nhiều ngân hàng đưa lên chạm mốc 6%/năm.

“Bắt mạch” tín hiệu tương lai

Theo Điều 10 Luật NHNN Việt Nam 2010, nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngoài ra, tại Thông tư 09/VBHN-NHNN, nghiệp vụ thị trường mở là việc NHNN thực hiện mua, bán giấy tờ có giá với các thành viên. Theo đó, NHNN thực hiện các hoạt động mua vào và bán ra các loại giấy tờ có giá với các tổ chức tín dụng nhằm mục đích điều tiết dòng tiền trên thị trường tiền tệ, qua đó hỗ trợ cân đối cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Theo NHNN, các hoạt động đấu thầu trên thị trường mở thực hiện theo các hình thức: Cạnh tranh lãi suất, kết hợp cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất và các hình thức khác có thể bổ sung mới khi cần thiết. Kỳ hạn tính theo các đơn vị ngày, tuần, tháng...

Theo TS. Châu Đình Linh - giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, việc các ngân hàng mua tín phiếu do họ huy động vốn nhưng chưa sử dụng. Qua đó, họ phải thực hiện mua tín phiếu để giảm bớt chi phí huy động vốn. Tuy nhiên, diễn biến này chỉ có tính chất ngắn hạn và có tính cục bộ ở một số ngân hàng chứ chưa đủ yếu tố cho thấy dòng tiền chung trong các ngân hàng thương mại đã dư thừa.

Một số điều kiện để một ngân hàng được tham gia thị trường mở

Theo Thông tư 09/VBHN-NHNN, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân) khi tham gia thị trường mở phải có tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam mở tại Ngân hàng Nhà nước và được NHNN cấp mã ngân hàng. Khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được công nhận là thành viên, NHNN cấp mã khóa truy cập, mã khóa ký chữ ký điện tử và phân quyền cho nhân sự tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở theo đề nghị của thành viên.

Ngoài ra trong thời gian qua, ngoài động thái bán tín phiếu, NHNN cũng vẫn thường xuyên thực hiện nghiệp vụ mua tín phiếu và động thái này thể hiện NHNN cũng vẫn bơm tiền ra cho các ngân hàng thương mại. Trong 2 ngày 17 và 18/11, NHNN đều mua vào mỗi ngày gần 7.900 tỷ đồng tín phiếu với lãi suất 6%.

Mặc dù vậy, lãi suất là một yếu tố đáng quan tâm, theo ông Châu Đình Linh, việc lãi suất tín phiếu bán ra giảm cũng có thể cho thấy một thông điệp báo hiệu xu hướng lãi suất huy động có thể sẽ bớt căng thẳng trong thời gian tới. Bởi lẽ, các ngân hàng nâng lãi suất huy động trong thời gian qua nhằm mục đích tăng sức hấp dẫn hút tiền gửi từ dân chúng, nhưng đã có một số ngân hàng chấp nhận mua tín phiếu với lãi suất giảm dần cho thấy, họ sẽ phải cân nhắc đến chi phí huy động vốn.

Qua đó, các ngân hàng huy động vốn vào lãi suất cao nhưng nếu chưa cho vay ngay được và phải dùng tiền đó để mua tín phiếu với lãi suất thấp hơn trước sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh. Việc này nếu còn kéo dài thì các ngân hàng sẽ phải cân nhắc dừng việc tăng lãi suất huy động, thậm chí giảm để phù hợp với thực tế sử dụng vốn.

Chí Tín

Đọc thêm

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Nhiều năm qua, Prudential Việt Nam liên tục được ghi nhận là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, thể hiện rõ cam kết tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150 ▲200K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▲200K
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▲1645K 16,752 ▲16752K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▲1645K 16,753 ▲16753K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▲164K 167 ▲167K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▲164K 1,671 ▲1671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▲162K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▲157361K 163,861 ▲163861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▲115387K 124,287 ▲124287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▲103801K 112,701 ▲112701K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▲92215K 101,115 ▲101115K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▲87746K 96,646 ▲96646K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▲6027K 6,917 ▲6917K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cập nhật: 08/05/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18500 18776 19355
CAD 18739 19017 19634
CHF 33167 33553 34194
CNY 0 3826 3919
EUR 30319 30594 31622
GBP 35013 35407 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15968
SGD 20211 20494 21019
THB 733 796 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26367
AUD 18611 18711 19636
CAD 18905 19005 20020
CHF 33308 33338 34921
CNY 3804.8 3829.8 3965.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30408 30438 32163
GBP 35163 35213 36966
HKD 0 3355 0
JPY 164.12 164.62 175.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15415 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20347 20477 21208
THB 0 760.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,137 26,187 26,367
USD20 26,137 26,187 26,367
USD1 26,137 26,187 26,367
AUD 18,673 18,773 19,890
EUR 30,558 30,558 31,969
CAD 18,858 18,958 20,268
SGD 20,427 20,577 21,490
JPY 164.61 166.11 170.7
GBP 35,062 35,412 36,798
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80