Agribank giảm gần 5.000 tỷ đồng tiền lãi hỗ trợ khách hàng vượt qua đại dịch Covid-19

(TBTCO) - Agribank cam kết luôn sẵn sàng cung ứng đủ nguồn vốn để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. 10 tháng năm 2021, Agribank giảm lãi cho gần 3,2 triệu khách hàng, với tổng số tiền lãi đã giảm là 4.996 tỷ đồng, là ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giảm lãi khủng để hỗ trợ khách hàng.
aa

Chia sẻ tối đa lợi ích để hỗ trợ khách hàng

Thực hiện Nghị quyết 63/NQ-CP của Chính phủ, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), việc thực hiện cam kết hỗ trợ khách hàng khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 của 16 ngân hàng thương mại (NHTM) đến nay đang được quyết liệt triển khai, với tổng số tiền lãi giảm lũy kế từ 15/7/2021 đến 31/10/2021 khoảng 15.559 tỷ đồng (tăng 3.323 tỷ đồng so với 30/9/2021 tương ứng tăng 27,16%), đạt 75,48% so với cam kết (tổng số tiền lãi giảm cho khách hàng theo cam kết ước tính 20.613 tỷ đồng).

Agribank giảm gần 5.000 tỷ đồng tiền lãi hỗ trợ khách hàng vượt qua đại dịch Covid-19
Agribank giảm gần 5.000 tỷ đồng tiền lãi hỗ trợ khách hàng vượt qua đại dịch Covid-19.

Cùng với đó, Agribank và 3 NHTM trong nhóm Big4 tiếp tục cam kết dành riêng gói hỗ trợ 4.000 tỷ đồng để giảm lãi suất, giảm 100% các loại phí dịch vụ ngân hàng trong thời gian giãn cách cho khách hàng tại các địa phương đang thực hiện cách ly toàn xã hội, theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN của NHNN và các Thông tư sửa đổi, bổ sung của NHNN, với dư nợ bị ảnh hưởng bởi Covid-19 tại Agribank tính đến 31/10/2021 là 261.439 tỷ đồng, Agribank đã thực hiện cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, phí với tổng số tiền là 48.118 tỷ đồng, trong đó: Cơ cấu lại nợ (gốc + lãi) là 45.397 tỷ đồng với 15.920 khách hàng; miễn, giảm lãi 2.721 tỷ đồng với 539 khách hàng, số lãi được miễn, giảm 31 tỷ đồng.

Tạo đòn bẩy phục hồi cho mọi thành phần kinh tế

Ngoài các gói hỗ trợ khách hàng theo chỉ đạo của NHNN, Agribank cũng chủ động, triển khai quyết liệt, thiết thực, có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thuộc mọi thành phần kinh tế.

Đối với chương trình tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng dành riêng cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tính đến 31/10/2021, doanh số giải ngân của chương trình đã đạt gần 120.000 tỷ đồng, số tiền lãi được giảm khoảng 600 tỷ đồng.

Cùng với đó, chương trình tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng do diễn biến dịch Covid-19 áp dụng đối với các khoản vay từ thời điểm 15/7/2021 đến 31/12/.2021 (Văn bản 6338/NHNo-TD ngày 14/7/2021), tính đến 31/10/2021, tổng dư nợ được giảm lãi suất hơn 1,1 triệu tỷ đồng, Agribank đã thực hiện hỗ trợ đối với 3,1 triệu khách hàng, với số tiền lãi được giảm là 4.760 tỷ đồng.

Agribank giảm gần 5.000 tỷ đồng tiền lãi hỗ trợ khách hàng vượt qua đại dịch Covid-19
Agribank đồng hành cùng người dân vượt qua đại dịch Covid-19.

Thực hiện chính sách tín dụng bổ sung cho khách hàng tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg (Văn bản 7814/NHNo-TD ngày 1/9/2021), Agribank đã giải ngân được hơn 105 tỷ đồng với 409 khách hàng. Agribank cũng thực hiện cho vay mới đối với các khách hàng ảnh hưởng dịch Covid-19, với doanh số 383.045 tỷ đồng, dư nợ còn lại là 145.480 tỷ đồng với 250.664 khách hàng.

Bên cạnh đó, Agribank vẫn đang tích cực triển khai có hiệu quả nhiều gói tín dụng có lãi suất ưu đãi, với tổng giá trị lên tới 270.000 tỷ đồng và 150 triệu USD, bao gồm: Chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng FDI với quy mô 5.000 tỷ đồng và 150 triệu USD, doanh số cho vay lũy kế đến nay đạt 3.045 tỷ đồng; chương trình tín dụng ưu đãi khách hàng lớn với quy mô 35.000 tỷ đồng, đến nay doanh số cho vay lũy kế đạt 23 tỷ đồng (ngắn hạn) và 95 tỷ đồng (trung, dài hạn); chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng xuất nhập khẩu với quy mô 15.000 tỷ đồng và 30 triệu USD, doanh số cho vay lũy kế đạt 3.339 tỷ đồng và 185 triệu USD; chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô 30.000 tỷ đồng, đến nay doanh số cho vay lũy kế đạt 582 tỷ đồng với 97 khách hàng; chương trình cho vay tiêu dùng lãi suất ưu đãi đối với khách hàng cá nhân khu vực đô thị với quy mô 20.000 tỷ đồng, doanh số cho vay lũy kế đạt 1.351 tỷ đồng với 1.763 khách hàng,…

10 tháng qua, trong bối cảnh dịch Covid-19 gây nên sự đứt gãy nghiêm trọng đối với các chuỗi sản xuất kinh doanh và làm giảm tốc độ phát triển của nền kinh tế, Agribank bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, đã kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng Covid-19 và nhiều chương trình giảm lãi, giảm phí góp phần hỗ trợ khách hàng khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đến nay, Agribank là một trong những ngân hàng thực hiện hỗ trợ (lãi, phí) nhiều nhất cho khách hàng. Bản thân Agribank cũng đang chịu nhiều khó khăn do ảnh hưởng chung của dịch bệnh. Tuy nhiên, cùng với toàn ngành ngân hàng, Agribank đang nỗ lực tối đa khắc phục khó khăn, cắt giảm chi phí, lợi nhuận để làm tốt vai trò bà đỡ của khách hàng và là trợ lực cho nền kinh tế sớm phục hồi trong bối cảnh dịch Covid-19 còn diễn biến khó lường./.

Bài và ảnh: Nhật Minh

Đọc thêm

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,010 17,310
Kim TT/AVPL 17,020 17,320
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,300
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 17,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 17,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,010 17,310
Miếng SJC Nghệ An 17,010 17,310
Miếng SJC Thái Bình 17,010 17,310
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 17,290
NL 99.90 15,570
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600
Trang sức 99.9 16,480 17,180
Trang sức 99.99 16,490 17,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,701 17,312
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,701 17,313
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cập nhật: 07/04/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18559
CAD 18384 18661 19278
CHF 32356 32739 33382
CNY 0 3470 3830
EUR 29784 30056 31084
GBP 34085 34475 35406
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14753 15340
SGD 19969 20252 20777
THB 726 789 842
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 29,921 29,945 31,183
JPY 161.04 161.33 170.01
GBP 34,279 34,372 35,342
AUD 17,911 17,976 18,542
CAD 18,594 18,654 19,224
CHF 32,590 32,691 33,448
SGD 20,106 20,169 20,839
CNY - 3,765 3,884
HKD 3,303 3,313 3,430
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.69 782.23 832.35
NZD 14,733 14,870 15,219
SEK - 2,746 2,826
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,658 2,735
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,120.28 - 6,866.72
TWD 744.75 - 896.66
SAR - 6,916.03 7,240.79
KWD - 83,758 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 29,746 29,865 31,038
GBP 34,127 34,264 35,261
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,283 32,413 33,322
JPY 161.08 161.73 168.99
AUD 17,806 17,878 18,462
SGD 20,102 20,183 20,758
THB 786 789 823
CAD 18,539 18,613 19,172
NZD 14,742 15,268
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26361
AUD 17890 17990 18918
CAD 18570 18670 19685
CHF 32607 32637 34219
CNY 3766.3 3791.3 3926.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29973 30003 31731
GBP 34390 34440 36193
HKD 0 3355 0
JPY 161.68 162.18 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20136 20266 20987
THB 0 755.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17010000 17010000 17310000
SBJ 16000000 16000000 17310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,361
USD20 26,167 26,217 26,361
USD1 26,167 26,217 26,361
AUD 17,880 17,980 19,089
EUR 30,038 30,038 31,451
CAD 18,493 18,593 19,898
SGD 20,169 20,319 21,335
JPY 162 163.5 168.05
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,677 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80