Bức tranh phân hóa về lợi nhuận ngân hàng trong quý IV

Chí Tín
(TBTCO) - Việc Ngân hàng Nhà nước vừa cho phép các ngân hàng có tăng trưởng tín dụng cao chủ động mở rộng hạn mức ngoài hạn mức đã cấp hồi đầu năm có thể sẽ khiến cho lợi nhuận ngân hàng sẽ có sự phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng, do có sự chênh lệch về tăng trưởng tín dụng.
aa
Bức tranh phân hóa về lợi nhuận ngân hàng trong quý IV
Trong quý IV/2023, kỳ vọng chi phí vốn của các ngân hàng sẽ giảm hơn nữa. Ảnh: TL

Cơ hội cho một số ngân hàng được “cởi trói”

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có động thái khá táo bạo, khi cho phép các ngân hàng có quyền tự chủ động linh hoạt trong việc thực hiện việc cho vay, trong giai đoạn những ngày còn lại của năm 2023.

Cụ thể, NHNN thông báo mức tăng trưởng tăng thêm cho các tổ chức tín dụng (TCTD) công khai, minh bạch theo các nguyên tắc và tiêu chí cụ thể. Các TCTD có dư nợ tín dụng đến cuối tháng 11/2023 đạt đến 80% chỉ tiêu tín dụng đã được thông báo thì sẽ được chủ động bổ sung hạn mức tăng thêm dựa trên cơ sở xếp hạng năm 2022.

Một trong những tiêu chí để được mở rộng hạn mức tín dụng là những TCTD tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ và hạ lãi suất cho vay xuống mức thấp, trong thời gian vừa qua. NHNN cho biết, việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần thiết phải đề nghị hoặc xin bổ sung.

Trước đó từ đầu năm, NHNN xác định mức tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14 - 15% và

Thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn dồi dào

Cuối tháng 11 và đầu tháng 12, lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì ở mức thấp thể hiện thanh khoản hệ thống vẫn khá dồi dào. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm vẫn vẫn chỉ 0,17%, thấp hơn rất nhiều so với mức trần lãi suất 5%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

được linh hoạt điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Đến tháng 7/2023, NHNN đã phân bổ hạn mức tín dụng cho toàn hệ thống TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với tổng mức tăng trưởng 14,5%.

Sau 11 tháng qua, tình hình tăng trưởng kinh tế còn gặp khó khăn, sức hấp thụ vốn và cầu tín dụng của nền kinh tế còn yếu. Tính đến cuối tháng 11/2023, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống mới đạt khoảng 8,3%, thấp hơn so với chỉ tiêu định hướng đầu năm.

Trong khi đó, mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống TCTD không đồng đều. Một số TCTD tăng trưởng khá cao, một số TCTD tăng trưởng thấp, thậm chí tăng trưởng âm.

Do đó, NHNN cho biết, việc cho phép các ngân hàng có quyền tự chủ động linh hoạt trong việc thực hiện việc cho vay thời gian cuối năm này là để kịp thời linh hoạt điều hành, đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng phục vụ nhu cầu vốn cho quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Đối diện với sự phân hóa lợi nhuận

Bức tranh phân hóa về lợi nhuận ngân hàng trong quý IV
Ảnh minh họa.

Lợi nhuận của các ngân hàng cho đến hết quý III/2023 thực chất đã có sự phân hóa, trong đó, một số ngân hàng vẫn đạt được tăng trưởng lợi nhuận khá tốt, trong khi một số ngân hàng đã bị tăng trưởng lợi nhuận âm so với cùng kỳ năm trước.

Ông Vũ Mạnh Hùng - chuyên viên phân tích thuộc Công ty chứng khoán VNDirect cho biết, trong quý III/2023 có 22 trong số 25 ngân hàng niêm yết có biên lãi ròng giảm so với cùng kỳ do tốc độ tăng lãi suất cho vay thấp hơn tốc độ tăng của chi phí huy động.

Trong số các ngân hàng thương mại cổ phần vốn hóa vừa và lớn, chỉ có Sacombank, VIB và VietinBank là có khả năng duy trì biên lãi ròng ổn định hoặc cao hơn so với cùng kỳ. Trong khi đó, biên lãi ròng của các ngân hàng có tỷ trọng sở hữu trái phiếu doanh nghiệp cao lại tiếp tục giảm nhiều nhất.

Theo dự báo của ông Hùng, trong quý IV/2023, kỳ vọng chi phí vốn của các ngân hàng sẽ giảm hơn nữa nhờ tiền gửi chi phí thấp sẽ chiếm tỷ trọng cao hơn trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Tuy nhiên, biên lãi ròng có thể sẽ không cải thiện ngay lập tức trong bối cảnh nhu cầu tín dụng còn yếu như hiện tại.

Một số ngân hàng sở hữu tỷ trọng cho vay cá nhân cao và tỷ lệ huy động bằng đồng USD thấp sẽ có cơ hội cải thiện biên lãi ròng tốt hơn so với các ngân hàng khác. Trong năm 2024, biên lãi ròng sẽ có khả năng phục hồi nhờ nhu cầu tín dụng quay trở lại cùng với sự tăng trưởng kinh tế.

Đưa ra dự báo về lợi nhuận của các ngân hàng trong quý IV, ông Quản Trọng Thành - Giám đốc Phân tích Công ty chứng khoán Maybank Investment Bank cho biết, nếu áp dụng dự phóng trong quý IV dựa trên cơ sở các thông tin từ lợi nhuận của quý III thì tăng trưởng của từng ngân hàng trong quý IV rất tốt do tín dụng tăng trưởng tốt.

Với quan điểm của các chuyên gia khi nhận định lợi nhuận ngân hàng có được nhờ yếu tố tăng trưởng tín dụng và theo đó, những ngân hàng được mở rộng tín dụng lần này nếu tận dụng tốt thời cơ tiếp tục đẩy mạnh tín dụng có thể có nhiều điều kiện tốt hơn để tạo ưu thế về hiệu quả kinh doanh hơn so với các ngân hàng khác.

Lãi suất giảm là yếu tố thuận lợi để các ngân hàng đẩy mạnh cho vay cuối năm

Theo NHNN, lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 4,2%/năm và 7,6%/năm, giảm khoảng trên 2% so với cuối năm 2022.

Trong ngày đầu tháng 12/2023, lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND thông thường tại quầy của các ngân hàng tiếp tục giảm thêm 0,1 - 1,35%/năm so với 1 tháng trước đó. Lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 12 tháng chỉ còn ở mức 5,7%/năm, thấp nhất chỉ còn 4,8%/năm.

Lãi suất tiền gửi đã chạm mức đáy của giai đoạn Covid-19 do thanh khoản hệ thống dư thừa trong bối cảnh nhu cầu tín dụng yếu. Đồng thời, lãi suất cho vay sẽ tiếp tục duy trì xu hướng giảm trong những tháng cuối năm nay nhờ vào sự giảm nhanh chi phí huy động vốn của các ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Kim TT/AVPL 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Nguyên Liệu 99.99 14,890 ▲90K 15,090 ▲90K
Nguyên Liệu 99.9 14,840 ▲90K 15,040 ▲90K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 ▲90K 16,090 ▲90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 ▲90K 16,040 ▲90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 ▲90K 16,020 ▲90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Hà Nội - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Miền Tây - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 ▲400K 162,400 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 ▲90K 16,240 ▲90K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,430 ▲90K 16,130 ▲90K
Trang sức 99.99 15,440 ▲90K 16,140 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 ▲1435K 16,242 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 ▲1435K 16,243 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 ▲1431K 1,619 ▲1458K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 ▲1431K 162 ▼1449K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 ▲1413K 1,604 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 ▲891K 158,812 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 ▲675K 120,462 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 ▲612K 109,233 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 ▲549K 98,004 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 ▲525K 93,673 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 ▲375K 67,043 ▲375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 ▲1435K 1,624 ▲1462K
Cập nhật: 21/05/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18212 18487 19062
CAD 18608 18885 19498
CHF 32805 33190 33829
CNY 0 3834 3926
EUR 29947 30220 31250
GBP 34573 34965 35896
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15118 15702
SGD 20050 20333 20853
THB 721 784 838
USD (1,2) 26096 0 0
USD (5,10,20) 26138 0 0
USD (50,100) 26166 26186 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26391
AUD 18436 18536 19461
CAD 18806 18906 19921
CHF 33102 33132 34715
CNY 3814.7 3839.7 3975.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30195 30225 31950
GBP 34920 34970 36731
HKD 0 3355 0
JPY 162.29 162.79 173.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20223 20353 21080
THB 0 751.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16000000 16000000 16300000
SBJ 14000000 14000000 16300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80