Cần bóc tách hoạt động thanh toán và bảo lãnh cấp tín dụng

Hoàng Yến
(TBTCVN) - Thư tín dụng bao gồm cả dịch vụ bảo lãnh cấp tín dụng (không thuộc đối tượng chịu thuế) và dịch vụ thanh toán (thuộc đối tượng chịu thuế), vì vậy cần phải bóc tách được hai dịch vụ này để xác định tính thuế.
aa

nh

Vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều về việc tính thuế giá trị gia tăng với các khoản phí dịch vụ thu từ hoạt động thư tín dụng.

Luật Thuế giá trị gia tăng từ khi ra đời đến nay không đánh thuế với hoạt động cấp tín dụng như cho vay, bảo lãnh… để khuyến khích thu hút vốn cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thư tín dụng bao gồm cả dịch vụ bảo lãnh cấp tín dụng (không thuộc đối tượng chịu thuế) và dịch vụ thanh toán (thuộc đối tượng chịu thuế) vì vậy cần phải bóc tách được hai dịch vụ này để xác định tính thuế.

Chính sách thuế giá trị gia tăng không thay đổi

Gần đây, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cùng một số ngân hàng có ý kiến về Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn 1606/TCT-DNL liên quan đến việc tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) với các khoản phí dịch vụ thu từ hoạt động thư tín dụng (L/C) của các ngân hàng, từ thời điểm Luật Các Tổ chức tín dụng (TCTD) 2010 có hiệu lực. Theo VNBA, việc tính thuế này “không phù hợp quy định pháp luật chuyên ngành, không phù hợp thông lệ quốc tế”, “gây gánh nặng cho các ngân hàng, doanh nghiệp”…

Trao đổi về vấn đề này tại cuộc tọa đàm mới đây do VNBA và VCCI tổ chức, ông Nguyễn Văn Phụng - Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế) khẳng định, chính sách thuế lâu nay không có thay đổi trong lĩnh vực này. Từ khi xây dựng Luật Thuế GTGT đến nay, quan điểm nhất quán là không thu thuế với các hoạt động huy động, cung cấp vốn cho thị trường, nhằm khuyến khích thu hút dòng vốn cho phát triển kinh tế. Do đó, qua các lần sửa đổi, luật vẫn quy định dịch vụ cấp tín dụng không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, bao gồm cả việc cho vay và bảo lãnh.

Trong khi đó, theo Luật về các TCTD năm 2010, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản quy định rõ bao gồm “thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”. Như vậy, theo luật chuyên ngành, L/C là dịch vụ thanh toán, không phải cấp tín dụng và thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.

Trên thực tế, ông Nguyễn Văn Phụng cho biết, từ những năm 2010, nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng có quản trị tốt đã phân định rõ trong cung cấp dịch vụ, dịch vụ nào là tín dụng, bảo lãnh… thì không áp thuế GTGT, dịch vụ chỉ đơn thuần về thanh toán, phát hành thì áp thuế GTGT.

Chuyên gia ngành Thuế cũng giải thích sở dĩ năm 2020, Tổng cục Thuế có Công văn 1606 là do trong quá trình quản lý, các cơ quan thuế địa phương nhận thấy giữa các ngân hàng, các địa phương lại có cách làm khác nhau về vấn đề tính thuế GTGT với hoạt động L/C. Qua rà soát, cơ quan thuế nhận thấy cách hiểu cũng như các quy định pháp luật chưa rõ ràng; tham khảo ý kiến cơ quan chuyên ngành là Ngân hàng Nhà nước cũng có ý kiến khác nhau giữa các đơn vị.

Do đó, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo các cơ quan thuế rà soát và hướng dẫn các ngân hàng thực hiện đúng quy định pháp luật. Hiện nay, với sự phối hợp tích cực của VNBA cũng như các ngân hàng, cơ quan thuế đang cùng với các ngân hàng kiểm tra, rà soát hệ thống, để tách bạch hoạt động L/C gắn với tín dụng và L/C gắn với dịch vụ thanh toán thì kê khai nộp thuế.

Bóc tách rõ dịch vụ tín dụng và thanh toán trong L/C

Từ góc độ chuyên gia, luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI, phân tích từ năm 1958, pháp luật đã quy định thư tín dụng hay tín dụng chứng từ hay L/C, là một trong 6 phương thức thanh toán. Luật Các TCTD năm 2010 cũng quy định thư tín dụng là dịch vụ thanh toán.

Về tổng quan, L/C là một nghiệp vụ thanh toán, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, trong đó, riêng việc mở L/C thì lại là một nghiệp vụ cấp tín dụng. Như vậy, L/C bao gồm cả dịch vụ bảo lãnh cấp tín dụng (không thuộc đối tượng chịu thuế) và dịch vụ thanh toán (thuộc đối tượng chịu thuế). Do đó, cần phải được tách bạch để xử lý thì mới đúng cả về chuyên môn, nghiệp vụ và pháp luật thuế. “Cần bóc tách riêng từng khoản để áp và không áp thuế GTGT, cũng giống như việc không thu thuế đối với lãi suất cho vay, nhưng vẫn thu thuế đối với doanh thu từ phí giải ngân và phí chuyển tiền vay của các TCTD để thanh toán hàng hoá, dịch vụ” - luật sư Trương Thanh Đức đề xuất.

Từ phía ngân hàng, bà Phùng Nguyễn Hải Yến - Phó Tổng giám đốc Vietcombank, cho biết các ngân hàng đến nay đã phân biệt rõ ràng giữa các khoản thu trong hình thức L/C, trong đó dịch vụ thanh toán, các cam kết không liên quan đến bảo lãnh đã được bóc tách và kê khai nộp thuế GTGT. Chỉ còn lại bảo lãnh thanh toán của ngân hàng đối với cam kết L/C nhập khẩu. Để giải quyết vấn đề này, đại diện Vietcombank đề nghị Tổng cục Thuế cho phép xác định lại rõ dịch vụ phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng là không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, còn tất cả các dịch vụ khác liên quan sẽ chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật.

Lắng nghe các ý kiến này, ông Nguyễn Văn Phụng cho rằng, trên cơ sở hiện trạng này, cần có giải pháp trên tinh thần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và đảm bảo tuân thủ đúng các quy định pháp luật. Đại diện Tổng cục Thuế bày tỏ sẵn sàng đối thoại, lắng nghe, chia sẻ với các ngân hàng, chuyên gia, nhà quản lý để cùng bàn bạc, hiến kế sao cho việc quản lý thu thuế được hiệu quả, đúng pháp luật.

Các quy định của luật


Điểm a, khoản 8, Điều 5 về “Đối tượng không chịu thuế”, Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014 và 2016) quy định các dịch vụ tài chính, ngân hàng không không đối tượng chịu thuế GTGT gồm:

“Dịch vụ cấp tín dụng bao gồm: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế; hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật”.

Khoản 15, Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 ▼40K 14,520 ▼40K
Trang sức 99.99 13,930 ▼40K 14,530 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 ▲1283K 14,562 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 ▲1283K 14,563 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼4K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼4K 1,452 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 ▲1256K 1,441 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 ▼396K 142,673 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 ▼300K 108,236 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 ▲79486K 98,148 ▲88306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 ▼70678K 8,806 ▼79498K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 ▼233K 84,169 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 ▼167K 60,246 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cập nhật: 14/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,160
USD20 25,662 25,812 26,160
USD1 25,642 25,812 26,160
AUD 18,324 18,424 19,537
EUR 29,484 29,584 31,249
CAD 18,327 18,427 19,737
SGD 20,203 20,353 20,908
JPY 166.21 167.71 173.25
GBP 34,522 34,672 35,736
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30